Trống đồng Việt Nam - ( trong dong ) đúc tinh xảo - Quà tặng văn hóa độc đáo. Sản phẩm quà tặng Trống Đồng đúc thu nhỏ, hoa văn mô phỏng theo Trống đồng Việt cổ. Sản phẩm quà tặng Trống Đồng mang đậm nét văn hóa truyền thống Việt Nam, ý nghĩa lịch sử, sự bền vững, kỹ thuật đúc thủ công tinh xảo Xuất phát từ làng nghề đúc đồng truyền thống Khu A, thị trấn Lâm, Ý Yên, Nam Định. Với hơn 20 năm hình thành, xây dựng và phát triển đến nay, đồ đồng mỹ nghệ Quang Huy đã trở thành đơn vị đúc đồng lớn mạnh trong và ngoài nước. Những điều cần lưu ý trong việc lập bàn thờ Phật tại gia. Tin tức Sự tích Ông Thọ hay Nam cực Tiên ông - Thọ Tinh. hun màu Kích thước:cao 43 cm nặng 12 kg Chất liệu:đồng đúc Giá: 12000000 đ Tượng phật thiên thủ thiên nhãn đồng vàng, hun màu - dùng thờ cúng trong gia THÉP ỐNG ĐÚC JIS G3445. THÉP ỐNG JIS G3454. THÉP ỐNG ĐÚC STPG410. THÉP ỐNG ĐÚC SPTG370. CÔNG TY CỔ PHẦN XNK THÉP VIỆT HÀN. Địa chỉ: Số 10, Đường 4A, KDC Vĩnh Lộc, P. Bình Hưng Hòa B, Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site. Đăng nhập Honda ADV 160 trang bị mâm đúc kích thước 14 inch trên bánh trước, 13 inch cho bánh sau. Hoda ADV 160 sử dụng bộ mâm đúc kích thước 14 inch trên bánh trước, 13 inch trên bánh sau kết hợp bộ lốp địa hình. Phiên bản ADV 160 đang bán tại Việt Nam được trang bị phanh ABS ở bánh trước. Tiếng Việt: ·Dụng cụ gồm một thanh thép, đầu có lưỡi sắc, và một chuôi cầm, dùng để tạo thành những chỗ lõm hoặc những lỗ trên các vật rắn như gỗ, đá, kim loại.··Có nhiều gợn nhỏ vẩn lên làm cho mờ, không trong suốt. Nước đục. Mặt thuỷ tinh hơi đục. Đục thuỷ Lời Kết Trong file sổ tay giáo trình có đề cập đến 1 thành viên là Nguyễn Trung Hiếu. Đây là bạn học trò của mình và đồng thời cũng là 1 người giảng viên kế cận do mình đạo tạo chuyên sâu để đứng lớp sau quãng thời gian mình chính thức dừng lại với nghề dạy autocad sau hơn 3 năm đó. 2. "Bốc hơi" nhẹ nhàng thôi Kết thúc quý thứ 2 năm 2022, vốn hoá sàn HOSE đã bốc hơi hơn 1,15 triệu tỉ đồng. Thoạt nghe thì có thể bạn chưa hình dung được độ khủng của con số này, nhưng nhìn màn vietsub của bạn Pham Quang Huy trong group Chứng Khoán Lướt Sóng Thần, khá nhiều chứng sỹ như muốn "xỉu up xỉu down Vay Tiền Cấp Tốc Online Cmnd. Your browser does not support the audio element. Nghề đúc đồng vốn xuất hiện từ rất sớm cho nên đã có một lịch sử đầy thăng trầm cùng với lịch sử của dân tộc. Dù vậy, nghề đúc đồng Việt Nam cho đến nay vẫn được lưu giữ và bảo tồn. Rất có thể bạn sẽ là một nghệ nhân, một người khai phá ra những con đường mới để nghề phát triển vượt trội hơn nữa, mang lại không giữ gìn bản sắc trong nét đẹp văn hóa dân gian mà còn tạo ra nhiều công ăn việc làm mới cho người lao động từ một công việc bước ra từ truyền thống. Việc làm Lao động phổ thông1. “Bước đi thăng trầm” của nghề đúc đồng Việt Nam Nghề đúc đồng - Bước ra từ “hoàng kim”… Chẳng biết chính xác nghề đúc đồng nước ta ra đời tự bao giờ nhưng những dấu ấn để lại cho đến ngày này cho biết, nghề có tuổi đơn hơn 4 nghìn năm, khởi nguồn từ thời Phùng Nguyên trong lịch sử, sau đó phát triển hưng thịnh vào thời Đông Sơn, tức thời kỳ của các vua Hùng. Các chứng tích mang đậm dấu ấn thời gian thể hiện trên các sản phẩm đồ đồng cho tới ngày nay có thể kể tới như trống đồng Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ,… Nghề đúc đồng làm gì? Các sản phẩm đồ đồng qua kỹ thuật đúc ngày càng trở nên phong phú, đa dạng về loại hình và kiểu dáng. Đường nét chạm khắc, kỹ thuật tạo dáng ngày càng trở nên tinh tế. Các thợ đúc đồng lành nghề qua các đời đã dần phát triển, đưa nghề truyền thống này bước lên những đỉnh cao mới. Trên khắp cả nước đều có sự hiện diện của nghề đúc đồng với các mức độ phát triển khác nhau, trong đó, những địa phương được cho là nổi tiếng với nghề tập trung chủ yếu ở khu vực miền Bắc với những làng nghề vô cùng nổi tiếng có thể kể tới như Đông Mai Hưng Yên, Ngũ Xá Hà Nội, Đại Bái Bắc Ninh cùng nhiều cái tên khác thuộc nhiều tỉnh thành Hải Dương, Hải Phòng, Nam Định, Thanh Hóa, Thừa Thiên – Huế,… … Đến sự “va chạm” với nền kinh tế thị trường Chỉ vài thập kỷ cách đây, khi các nguồn nguyên vật liệu mới đã ra đời từ trong lối sống hiện đại, nghề đúc đồng phải đối mặt với nhiều khó khăn cùng rất nhiều nghề truyền thống khác. Có thể nói, nhiều ngôi làng làm nghề nói rơi vào tình trạng hoạt động cầm chừng trong thế “mong manh trước gió” tưởng như có lúc phải đóng cửa. Thế nhưng, nền kinh tế dần đi vào bình ổn và không phát triển đơn phương, kèm theo đó có cả sự thăng hoa trong đời sống tinh thần bên cạnh sự ổn định về vật chất thì nghề đúc đồng dần tìm lại được một vị trí để phát triển. Thực trạng phát triển nghề đúc đồng Việt Nam Những nhu cầu về tâm linh, sắm sửa các sản phẩm thời tự hay các đồ vật trang trí bắt đầu được chú trọng mà nguyên liệu chính để làm nên chúng là đồng. Chính vì thế nghề đúc đồng truyền thống ngày nào vẫn còn tồn tại và có cơ may để tiếp tục phát triển. Thậm chí nhiều ngôi làng làm nghề đã liên kết với tốt với doanh nghiệp để xuất khẩu ra nước ngoài, vừa quảng bá một nét đẹp bản sắc của dân tộc vừa góp phần thúc đẩy kinh tế làng nghề nói riêng và nền kinh tế toàn quốc nói chung. 2. Con đường tương lai đầy triển vọng của nghề đúc đồng Trải qua những thăng trầm như vậy, không chắc nghề có thể “một lần thắm lại” thời hoàng kim thuở nào nhưng cũng được hết sức nâng niu, trân trọng và gìn giữ bởi những nghệ nhân yêu nghề. Nhờ đó, nghề đã tạo ra được công ăn việc làm cho rất nhiều người lao động, không thể tính chi tiết là bao nhiêu nhưng đó là con số hàng chục, hàng trăm ngàn người, đặc biệt là những người lao động phổ thông đến từ mọi miền tổ quốc. Thêm vào đó, nghề còn được phát triển theo những xu hướng mới, hiện đại hơn và có triển vọng hơn nữa nhờ các nghệ nhân trẻ. Dù được sinh ra ở thời đại mới, không trực tiếp đi theo tiến trình hình thành và phát triển của nghề đúc đồng nhưng thế hệ trẻ ngày này cũng không ít người có niềm đam mê khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, trong đó có nghề đúc đồng. Họ đã thổi vào hồn xưa những không khí mới mẻ, tạo sự hòa quyện độc đáo giữa hai màu sắc, hai vẻ đẹp truyền thống và hiện đại để rồi mang đến cái chất riêng cho mỗi sản phẩm được tạo ra từ công việc đúc đồng. Triển vọng của nghề đúc đồng Nhờ chịu khó nghiên cứu, tìm tòi các kỹ thuật công nghệ mới để đưa vào hoạt động sản xuất sản phẩm bằng đồng, các nghệ nhân không chỉ bảo vệ môi trường hiệu quả mà còn thúc đẩy việc đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao giá trị sản phẩm, thương hiệu đối với các sản phẩm đồng và khôi phục lại tên tuổi cho nhiều làng nghề vốn có tiếng từ thuở xưa. Ngoài ra, họ cũng đưa sản phẩm của nghề truyền thống đúc đồng tham gia vào nhiều chương trình, hoạt động về xúc tiến thương mại như hội chợ hay triển lãm, không chỉ trong nước mà còn ở cả thị trường quốc tế để giúp các sản phẩm đồ đồng đi vào trong dân, trở nên gần gũi với đời sống nhiều hơn. Họ còn áp dụng cả những hình thức quảng bá điện tử thông qua mạng internet, các kênh truyền thông trực tuyến để quảng bá hình ảnh, chất lượng sản phẩm, tích cực mở rộng thị trường và tìm kiếm những cơ hội phát triển cho nghề đúc đồng. 3. Hành trình tạo ra những sản phẩm đồng độc đáo Khám phá hành trình của mỗi sản phẩm đồ đồng, chúng ta sẽ hiểu được nghề đúc đồng làm những công việc cơ bản nào? Đây cũng sẽ là một nguồn thông tin quan trọng dành cho những ai đang có nhu cầu tìm việc làm tại một làng nghề đúc đồng truyền thống nào đó. Hãy cùng Bích Phượng khám phá sâu hơn về cơ hội việc làm của bạn với những nội dung bên dưới đây. Quá trình đúc đồng được tiến hành như thế nào? Sản phẩm đúc đồng là sản phẩm của cả tập thể, nếu như ở tất cả các khâu không có người thợ giỏi thì không thể nào tạo ra được những sản phẩm đồ đồng đẹp. Dù đã đi qua hàng ngàn năm lịch sử, trong khi đó đã có rất nhiều nghề thay đổi trước sự phát triển của công nghệ, khoa học thì với đúc đồng, đến nay nó vấn xứng với danhtruyền thốngbởi mọi phương thức của nghề vẫn được giữ nguyên vẹn như buổi sơ khai. Những công đoạn chính từ xưa đến nay vẫn vậy, có chăng cải biên một chút để trở nên phù hợp. Dựa vào công đoạn mà Phượng mô tả bên dưới đây sẽ giúp bạn có hình dung rõ ràng hơn về công việc của những người thợ đúc đồng. Nguyên liệu và mẫu Để đúc ra một sản phẩm đồng bất kì, chúng ta cần dựa trên mẫu, mẫu ở đây có thể là mẫu hiện vật hoặc mẫu ý tưởng. Nhiệm vụ của nghệ nhân đúc đồng đó là tạo ra sản phẩm thật giống với mẫu. Do đó, họ cần phải có khả năng liên tưởng, hình dung và sao chép để có thể đáp ứng được các yêu cầu được đưa cho từ khách hàng. Về mẫu, họ cần chọn và tạo mẫu bằng đất sét loại chuyên dụng, bằng thạch cao hoặc gỗ,… Sau đó họ đắp theo hình mẫu có sẵn và bắt đầu từ đây sẽ quyết định việc đường nét trong sản phẩm có tinh xảo hay không. Nếu mẫu ẩu thì không thể nào tạo được các sản phẩm tinh tế, đẹp mắt và đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Công việc đúc đồng Cùng với việc tạo mẫu tỉ mỉ, hoàn hảo thì muốn sản phẩm chất lượng, nghệ nhân đúc đồng sẽ phải “căng não” để chọn ra chất liệu đồng tốt nhất. Vậy những tiêu chí nào được đem vào đánh giá chất liệu đồng? Đó là loại chất liệu sạch, chứa ít tạp chất. Trên thị trường ngày này có các loại nguyên liệu như bột đồng, vụn đồng,… khá thích hợp để đem vào sử dụng. Điều quan trọng tiếp theo là cân đo nguyên liệu sao cho phù hợp, các tỷ lệ hài hòa. Dạng nguyên liệu đồng đỏ hiện có giá cạnh tranh hơn đồng vàng, điều đó cho thấy rằng, lựa chọn chất liệu đồng đỏ sẽ giúp người đúc đồng tạo được sản phẩm ưng ý hơn. Tạo khuôn đúc sản phẩm Khi tạo khuôn, người đúc đồng sẽ trộn giữa nguyên liệu đất tốt với phụ gia lại với nhau để làm khuôn. Các phụ gia phổ biến như giấy gió và vỏ trấu sẽ cùng trộn vào trong đất sét và làm thành khuôn âm bản. Tiếp đến sử dụng đất bùn, chấu, loại bột có khả năng chịu nhiệt tốt để làm cốt làm thao Khuôn cần được phơi thật khô trong khoảng từ 10 tới 20 ngày, nếu nhanh thì sử dụng phương pháp công nghiệp nung ở mức 700 độ C rồi điều chỉnh mức độ mỏng dày theo yêu cầu. Công việc nung – nấu của thợ đúc đồng Khi đã có được khuôn đúc thì người thợ sẽ lau thật nhẵn nhụi và quét lên khuôn nước sơn chịu nhiệt. Công đoạn nung lại được tiếp tục lần thứ hai sau đó ghép các khuôn lại với nhau theo hình sản phẩm. Song song với lần nung khuôn này, người thợ sẽ thực hiện công việc nhóm lò để nấu đồng, để nhiệt độ nóng chảy ở độ C và canh đến khi đồng nóng chảy hoàn toàn sẽ phải pha thêm các tỷ lệ nguyên liệu đưa vào bao gồm có thiếc, kẽm và chì để đưa vào sản phẩm theo yêu cầu về tỷ lệ đặt ra ban đầu, tiếp tục nấu ở độ C. Các giai đoạn của nghề đúc đồng Đây là một quá trình dài và rất nhọc nhằn với 10 tiếng đồng hồ để có thể múc nước đồng đem đổ vào trong khuôn. Hai công đoạn song song này phải được tiến hành đồng thời và vừa khớp nhau sao cho khi đồng tan chảy hoàn toàn thì khuôn đúc cũng đã kịp nóng đỏ. Dường như rất khó để thực hiện nhưng phải ở trong nghề chúng ta mới hiểu và phải là nghệ nhân có tay nghề tốt mới có thể làm tốt điều này. Tùy từng loại sản phẩm sẽ có thời gian dỡ ra khỏi khuôn khác nhau và tiến đến công đoạn hoàn thành sản phẩm. Sản phẩm đồng được hoàn thiện như thế nào? Sau khi đã đủ điều kiện thì sản phẩm sẽ được đưa ra khỏi khuôn và để nguội hoàn toàn. Lúc này người thợ đúc đồng sẽ cần thực hiện các thao tác như mài nhẵn các góc cạnh, thực hiện chạm khắc thật khéo léo, đánh bóng sản phẩm và lên màu đúng yêu cầu về thẩm mỹ và yêu cầu đặc biệt của khách hàng nếu như sản phẩm đó được đặt trước. Như vậy, với một vài mô tả, có thể thấy nghề đúc đồng trải qua những công đoạn vô cùng vất vả và tốn rất nhiều thời gian mới cho ra lò sản phẩm ưng ý. Mỗi khâu không làm kỹ và dồn tâm sức vào đó thì coi như thành phẩm cuối cùng sẽ đổ sông đổ biển cho nên nghề đúc đồng đòi hỏi người lao động phải thực sự yêu nghề, có tâm huyết và có một đôi bàn tay tài hoa, một tinh thần nghệ sĩ trong đó nữa. Nếu bạn nhận thấy mình có những yếu tố đó, hãy tìm đến nghề đúc đồng tại các địa chỉ nổi tiếng dưới đây. Mẫu đơn xin việc 4. Những làng nghề đúc đồng có tiếng của Việt Nam Có những cái tên gắn liền theo năm tháng với nghề đúc đồng. Khi có nhu cầu mua sản phẩm đồng chất lượng và đẹp mắt hoặc ngay cả khi bạn muốn thể hiện những tài hoa của mình cũng có thể tìm đến những làng nghề nổi tiếng mà Bích Phượng sẽ kể ra ngay sau đây. Thứ nhất có thể nhắc tới đó là làng đúc đồng truyền thống Ngũ Xá ở mảnh đất Thủ đô. Vốn nổi tiếng từ lâu đời nhờ kỹ xảo tuyệt mĩ trong các sản phẩm như trống đồng,tượng đồng, chuông đồng, đồ thờ đồng, tranh đồng mang theo đường nét nét tinh hoa xếp vào hàng bậc nhất của kinh thành Thăng Long xưa, cho nên đến nay, Ngũ Xá có được nhiều lợi thế phát triển. Nhiều người biết đến cái tiếng tăm ấy mà không ngần ngại thể hiện tình yêu nghề của mình để tìm đến đây xin việc. Làng nghề đúc đồng Tiếp theo, những cái tên nhất định phải “ngó” qua nếu như muốn phát triển tay nghề trong công việc đúc đồng của bạn đó là làng nghề đồng Đại Bái ở vùng quê Kinh Bắc, Tống Xá tại Nam Định hay Đồng Chè – Thanh Hóa,…Những cái tên đã trở thành lịch sử của nghề đúc đồng truyền thống này sẽ mang tới cho bạn rất nhiều cơ hội được phát triển nghề nghiệp và thỏa mãn sức sáng tạo và thể hiện sự tài hoa của mình. Tìm việc làm Như vậy, những thông tin về nghề đúc đồng Việt Nam mà Bích Phượng gửi gắm trong bài viết này đã phần nào mang đến cho bạn hiểu biết cơ bản về một nghề truyền thống. Đồng thời, nhen nhóm lên trong bạn những khát khao được thỏa mãn đam mê với nghề. Nếu có nhu cầu tìm việc làm trong các làng nghề đúc đồng truyền thống, bạn có thể tìm kiếm cơ hội đó trên – một website nổi tiếng chuyên cung cấp việc làm uy tín và hấp dẫn. Hệ thống sẽ mang đến cho bạn nhiều gợi ý phù hợp với mong muốn của bạn. Dưới đây là một nhu cầu điển hình trong tuyển dụng lao động đối với nghề đúc đồng bạn có thể tham khảo Tải xuống ngay Từ khóa liên quan Chuyên mục Nghề đúc đồng có lịch sử và truyền thống lâu đời tại Việt Nam. Dù trải qua nhiều thăng trầm lịch sử thì nghề này vẫn được giữ gìn và truyền qua nhiều thế hệ, ngày càng phát triển hơn. Để hiểu rõ hơn về nghề này với các công việc chủ yếu thì các bạn cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây. Nghề đúc đồng là một nhánh nhỏ trong nghề đúc nói chung. Đúc đồng là phương pháp tạo phôi qua phương pháp nấu chảy kim loại đồng. Chờ đồng nóng chảy thì rót vào khuôn có hình dáng với kích thước của vật đúc. Kim loại sau khi đông đặc sẽ tạo ra vật mẫu với hình dáng giống lòng khuôn đúc. Nghề đúc đồng là một ngành nhỏ trong nghề đúc hiện nay Đúc đồng là nghề truyền thống, công việc thủ công do những người thợ có chuyên môn thực hiện. Với cơ chế đun nóng dung dịch đồng, tạo khối với trạm trổ thì người thợ sẽ tạo ra thành phẩm với hình khối khác nhau, có vẻ ngoài sáng bóng. 2. Lịch sử ra đời nghề đúc đồng Theo các tư liệu lịch sử thì nghề đúc đồng xuất hiện tại Việt Nam cách đây khoảng 4000 năm từ thời Phùng Nguyên hậu kỳ thời Đá mới, mở ra kỳ thời Đồ đồng. Thời Đông Sơn, các Vua Hùng dựng nước cách đây từ 2000 – 3000 năm đã giúp cho nghề đúc đồng ngày càng phát triển. Đến thời Lý Trần thì các thế hệ thợ đúc đồng dùng thêm vàng, bạc chế tác ra nhiều sản phẩm như chuông khánh, tượng Phật … Cho đến nay, nghề đúc đồng vẫn đang tồn tại và có bước phát triển tại các tỉnh thành, chủ yếu là tại miền Bắc Việt Nam. Trong đó, một số làng nghề nổi tiếng đúc đồng như làng Đại Bái Bắc Ninh, làng Ngũ Xã Hà Nội chủ yếu đúc đồ mỹ nghệ như lư hương thờ cúng, tượng đồng…. Trong khi đó, những làng nghề đúc đồng Mỹ Đồng hay An Dương nổi tiếng với nghề đúc đồng cơ khí chủ yếu. >>> Xem thêm Nghề Designer là gì? Các vị trí công việc của Designer 3. Nghề đúc đồng tạo ra sản phẩm chứa giá trị cao Đồng là kim loại có từ lâu đời, rất bền và an toàn cho sức khỏe. Do vậy, các sản phẩm đúc đồng bền theo năm tháng. Theo các chuyên gia, đồng là kim loại có sức bền thuộc top đầu các loại đồ đúc. Qua năm tháng thì từ những chi tiết máy móc nhỏ cho đến bức tượng lớn đều giữ nguyên vẻ đẹp ban đầu. Với đặc tính lâu bền trong môi trường giúp các vi tiết máy bằng đồng đều được ưu tiên dùng trong các ngành công nghiệp cơ khí chế tạo. Sản phẩm đúc đồng có giá trị thẩm mỹ cao Sản phẩm đúc đồng mỹ nghệ có tính thẩm mỹ cao, vẻ đẹp này giúp chúng được trưng bày tại những nơi trang trọng như bàn thờ, đền thờ… Đa số các nghệ nhân đồ đồng kết hợp hài hòa màu sắc cổ kính, chất liệu mềm mại, sang trọng trong từng họa tiết. Do vậy những sản phẩm tạo ra nét đẹp trong nghệ thuật đúc đồng. Sản phẩm đúc đồng mang quốc hồn văn hóa Lịch sử phát triển nghề đã vun đắp lên những giá trị theo năm tháng cho các sản phẩm đúc đồng. Sự tồn tại lâu đời, sớm trở thành nét văn hóa của người Việt. Ngoài chiếc trống đồng Đông Sơn hay lư hương hoa văn tinh xảo thì ngay cả những chi tiết nhỏ bé trong máy tàu thủy đều thể hiện vẻ đẹp của người thơ lao động chăm chỉ. Các giá trị tốt đẹp đó đã thôi thúc nhiều người yêu nghề đúc đồng phải quyết tâm gìn giữ giá trị. 4. Quá trình đúc đồng như thế nào? Để tạo ra sản phẩm đúc đồng đòi hỏi các người thợ lành nghề phải đặt 100% tâm huyết với sự khéo léo. Với kỹ thuật đúc đồng chuẩn mới tạo ra những sản phẩm chất lượng. Nghề đúc đồng vẫn còn giữ nguyên bản sắc văn hóa dân tộc Quy trình đúc đồng cơ bản như sau 1 Tạo mẫu – 2 Tạo khuôn – 3 Nấu chảy kim loại – 4 Rót khuôn – 5 Hoàn thiện sản phẩm. Mỗi công đoạn này có vai trò quyết định đến chất lượng thành phẩm cuối cùng. Khâu vẽ cũng khởi nguồn cho ý tưởng về hình dáng sản phẩm. Về khâu tạo khuôn cũng đòi hỏi người thợ lành nghề được tham gia, các bước nấu chảy nguyên liệu, rót nguyên liệu vào khuôn đòi hỏi sự kiên nhẫn, tỉ mỉ để đảm bảo an toàn với chất lượng thành phẩm. Bước cuối cùng là gia công để hoàn thiện sản phẩm và xuất xưởng. >>> Bạn có biết Nghề dancer là gì? Khó khăn với nghề Dancer là những gì? 5. Con đường nhiều triển vọng của nghề đúc đồng trong tương lai Nhiều bạn trẻ đánh giá nghề đúc đồng không có tương lai bởi nghề này đòi hỏi sự tỉ mỉ và bỏ công lao động nhiều. Điều này khiến cho các bạn trẻ không phải ai cũng sẵn sàng dành nhiều tâm huyết cho nghề này. Nghề đúc đồng cơ khí hiện tại vẫn đang có chỗ đứng chắc chắn trong ngành công nghiệp. Với nền công nghiệp ở Việt Nam thì tại một số tỉnh như Hải Phòng phát triển, nên nguồn nhân lực cũng cực kỳ dồi dào. Các chi tiết máy móc hay bộ phận máy móc thiết bị đều được sản xuất từ xưởng đúc đồng chuyên nghiệp. Nền công nghiệp ngày càng phát triển thì đúc đồng cũng đang còn có nhiều tiềm năng lớn trong tương lai. Nghề đúc đồng đến nay vẫn còn giữ nguyên bản sắc cho người Việt Nam, còn được giữ gìn và phát huy dù trong thời đại phát triển. Đừng quên theo dõi bài viết tiếp theo để cập nhật thông tin hữu ích khác. Chúc bạn thành công! Đúc đồng là ngành nghề có lịch sử lâu đời tại Việt Nam. Trải qua thăng trầm lịch sử, nghề đúc đồng vẫn được gìn giữ qua nhiều thế hệ và ngày càng phát triển hưng thịnh hơn. Có những làng nổi tiếng với nghề đúc đồng mỹ nghệ, nhưng cũng có vùng chỉ chuyên đúc đồng cơ khí. Hãy cùng Cơ khí Quốc Dương tìm hiểu đúc đồng là gì và những thông tin thú vị nhất về nghề đúc đồng ở bài viết dưới đây. NỘI DUNG1. Nghề đúc đồng là gì?2. Lịch sử lâu đời hàng ngàn năm của nghề đúc đồng3. Đúc đồng tạo ra sản phẩm ẩn chứa giá trị caoSản phẩm đúc đồng lâu bền theo năm thángĐúc đồng có giá trị thẩm mỹ caoSản phẩm đúc đồng mang quốc hồn văn hóa4. Đúc đồng là cả một quá trình của sự khéo léo tâm huyết5. Con đường nhiều triển vọng của nghề đúc đồng trong tương lai Đồng thuộc nhóm kim loại màu tương tự như nhôm. Khác với các kim loại đúc khác như gang, thép,… – thuộc nhóm kim loại đen. Nghề đúc đồng là một nhánh nhỏ của nghề đúc nói chung. Đúc là phương pháp chế tạo phôi thông qua phương pháp nấu chảy kim loại. Sau đó kim loại nóng chảy được rót vào lòng khuôn có hình dáng và kích thước của vật đúc. Kim loại đông đặc sẽ tạo ra vật mẫu có hình dáng giống lòng khuôn đúc. Đúc đồng là nghề truyền thống, là công việc thủ công do những người thợ có chuyên môn thực hiện. Cũng với cơ chế đun nóng dung dịch đồng, tạo khối và trạm trổ, người thợ tạo ra thành phẩm với các hình khối khác nhau và có vẻ ngoài sáng bóng. 2. Lịch sử lâu đời hàng ngàn năm của nghề đúc đồng Thực tế đồng là kim loại đầu tiên mà con người tìm ra và sử dụng. Theo một số tư liệu lịch sử, đúc đồng đã xuất hiện ở Việt Nam cách đây khoảng 4000 năm vào thời Phùng Nguyên hậu kỳ thời Đá mới – sơ kỳ thời Đồ đồng. Đến thời Đông Sơn cũng là thời kỳ các Vua Hùng dựng nước cách đây 2000 – 3000 năm, nghề đúc đồng đạt đến đỉnh cao phát triển. Khi dòng lịch sử dịch chuyển đến thời Lý Trần, các thế hệ thợ đúc đồng còn dùng thêm cả vàng, bạc để chế tác ra nhiều sản phẩm như tượng Phật, chuông khánh… Hiện nay nghề đúc đồng vẫn còn tồn tại và tiếp tục phát triển tại một số tỉnh thành, chủ yếu là miền Bắc Việt Nam. Một số làng nghề nổi tiếng như làng Ngũ Xã Hà Nội, làng Đại Bái Bắc Ninh chuyên về đúc đồng mỹ nghệ tượng đồng, lư hương thờ cúng…. Trong khi đó các làng nghề đúc đồng Mỹ Đồng hay An Dương Hải Phòng lại nổi danh với nghề đúc đồng cơ khí. Cơ khí Quốc Dương hoạt động trong lĩnh vực đúc cơ khí từ năm 2006. Rất nhiều các sản phẩm đúc được gia công tại xưởng chúng tôi. Quý bạn đọc có thể xem thêm các sản phẩm đúc cơ khí tại tại đây! 3. Đúc đồng tạo ra sản phẩm ẩn chứa giá trị cao Sản phẩm đúc đồng lâu bền theo năm tháng Trước hết bởi đồng là nguyên liệu có sức bền thuộc top 1 trong các loại đồ đúc. Theo thời gian dù chi tiết máy móc nhỏ hay cả bức tượng lớn cũng giữ nguyên vẻ đẹp ban đầu. Chính đặc tính lâu bền trước môi trường đã giúp các chi tiết máy bằng đồng rất được ưu tiên sử dụng trong ngành công nghiệp cơ khí chế tạo. Sản phẩm đúc đồng chi tiết cơ khí Sản phẩm đúc đồng và đúc nhôm tại cơ khí Quốc Dương Đúc đồng có giá trị thẩm mỹ cao Đặc điểm này dễ thấy nhất ở sản phẩm đúc đồng mỹ nghệ. Nhờ vẻ đẹp này mà chúng được trưng bày ở những nơi trang trọng như đền thờ, bàn thờ… Các nghệ nhân đồ đồng đã kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ kính, chất liệu sang trọng và sự mềm mại trong họa tiết. Từ đó tạo nên nét đẹp trong nghệ thuật đúc đồng. Sản phẩm đúc đồng mang quốc hồn văn hóa Chính lịch sử của nghề đã vun đắp lên những giá trị năm tháng cho từng sản phẩm đúc đồng. Nghề đúc đồng tồn tại lâu đời và sớm trở thành nét đẹp văn hóa của Việt Nam. Không chỉ chiếc trống đồng Đông Sơn hay lư hương hoa văn tinh xảo mà ngay cả chi tiết máy tàu thủy, dù nhỏ bé cũng chứa đựng hình ảnh đẹp về người thợ lao động chăm chỉ. Những giá trị tốt đẹp đó thôi thúc nhiều người yêu nghề đúc đồng quyết tâm gìn giữ. 4. Đúc đồng là cả một quá trình của sự khéo léo tâm huyết Quy trình tạo ra một sản phẩm đúc đồng đòi hỏi bất kỳ người thợ lành nghề nào cũng phải đặt 100% tâm huyết và sự khéo léo. Chỉ kỹ thuật đúc đồng chuẩn mới cho ra đời những sản phẩm chất lượng. Quy trình đúc đồng cơ bản gồm các khâu 1 Tạo mẫu, 2 Tạo khuôn, 3 Nấu chảy nguyên liệu, 4 Rót khuôn, 5 Hoàn thiện sản phẩm. Tạo khuôn mẫu từ cát Rót đồng nóng chảy vào khuôn Mỗi công đoạn đều đóng vai trò quyết định đến chất lượng cuối cùng của thành phẩm. Khâu vẽ mẫu là khởi nguồn cho ý tưởng hình dáng sản phẩm. Khâu tạo khuôn khó nhằn đòi hỏi những người thợ lành nghề tham gia. Các bước nấu chảy nguyên liệu, rót nguyên liệu vào khuôn yêu cầu sự tỉ mỉ, kiên nhẫn để đảm bảo an toàn và chất lượng thành phẩm. Từ đó bước cuối cùng sẽ gia công để hoàn thiện sản phẩm và xuất xưởng. Tìm hiểu chi tiết quy trình đúc đồng là gì ở bài viết tại đây! Hoặc xem minh họa các bước cơ bản trong đúc đồng khuôn cát tươi ở video dưới đây  5. Con đường nhiều triển vọng của nghề đúc đồng trong tương lai Không ít bạn trẻ đánh giá nghề đúc đồng không có tương lai. Điều này có điểm đúng bởi đúc đồng là nghề thủ công đòi hỏi sự tỉ mỉ và bỏ sức lao động. Không phải bạn trẻ nào cũng sẵn sàng dành nhiều tâm huyết như vậy cho nghề. Trên thực tế, chỉ riêng nghề đúc đồng cơ khí vẫn luôn và sẽ có chỗ đứng trong ngành công nghiệp. Nền công nghiệp của Việt Nam, đặc biệt tại một số tỉnh thành như Hải Phòng phát triển mạnh. Từ đó đòi hỏi nguồn lực rất lớn cho ngành. Nhiều chi tiết máy hay bộ phận máy móc thiết bị cũng đều được sản xuất từ những xưởng đúc đồng chuyên nghiệp. Do đó nền công nghiệp còn phát triển thì nghề đúc đồng vẫn còn phát triển theo. Qua bài viết trên bạn đã giải đáp được câu hỏi “đúc đồng là gì” rồi chứ? Hy vọng những thông tin hữu ích về nghề đúc đồng đã cho bạn nhiều góc nhìn mới thú vị hơn. Quý khách hàng tại Hải Phòng và trên cả nước quan tâm dịch vụ đúc kim loại màu, đúc kim loại đen, gia công cơ khí chính xác và sản xuất kết cấu thép không gỉ, hãy liên hệ ngay đến Cơ khí Quốc Dương qua hotline hoặc địa chỉ Fanpage. Chúng tôi là đơn vị uy tín hàng đầu tại Hải Phòng, cam kết đem đến cho khách hàng trải nghiệm dịch vụ và sản phẩm tốt nhất! => Điền thông tin để nhận tư vấn và báo giá chính xác nhất CÔNG TY TNHH CƠ KHÍ QUỐC DƯƠNG Nhà máy Km 88, Quốc Lộ 5 mới, KCN Nam Sơn, xã Nam Sơn, huyện An Dương, Hải Phòng HOTLINE 0383 489 589 HOTLINE GĐ KỸ THUẬT – 0904 184 501 EMAIL ckquocduong FANPAGE Cơ khí Quốc Dương Đăng nhập Đúc Đồng là gì? Đúc Đồng là nghề thủ công rất lâu đời ở Việt Nam. Ngày xưa, đúc đồng chủ yếu sản xuất những vật dụng trong gia đình như nồi, chảo cho đến khi đất nước tiến bộ hơn thì con người làm sang những sản phẩm tâm linh như đồ thờ bằng đồng, tượng phật, chuông, chiêng. Và đến bây giờ, con người có nhận thức và nhu cầu nên ngành đúc đồng này đang phát triển để phục vụ những nhu cầu đó. Không chỉ riêng nồi, chảo hay đồ thờ, tượng, chuông, chiêng mà còn đúc các loại tượng chân dung, tượng phật cỡ lỡn, đồ thờ được cải tiến hơn rất nhiều, chạm khảm các loại tranh đồng...Để tìm hiểu về các sản phẩm đó xin quý vị xem tại website của chúng tôi hoặc Có thể nói sản phẩm đúc đồng là sản phẩm của một tập thể. Không có người thợ giỏi ở tất cả các khâu thì không thể có sản phẩm đẹp. Yêu cầu trước hết của người thợ là sự kiên trì, cẩn thận, tỉ mỉ và kinh nghiệm trên từng công đoạn. Hàng trăm năm qua khi các ngành nghề khác thay đổi chóng mặt vì sự phát triển của khoa học và công nghệ thì đúc đồng truyền thống vẫn như buổi sơ khai, hầu hết làm thủ công. Sơ lược có bốn công đoạn chính để hoàn thành một sản phẩm. I .QUY TRÌNH ĐÚC MỘT SẢN PHẨM ĐỒNG 1 Tạo mẫu Nghệ nhân tạo mẫu như hình ảnh của sản phẩm mẫu mẫu có thể do khách hàng cung cấp - Dùng đất sét đắp mẫu theo quy định, chỉnh sửa đường nét, ngôn ngữ điêu khắc của thành phẩm trên từng thành phẩm. - Khi đạt được yêu cầu làm khuôn thạch cao âm bản chỉnh sửa đổ ra khuôn thạch cao. - Bản chỉnh sửa đường nét như phác thảo đã được duyệt. 2 Tạo khuôn Công đoạn làm khuônsử dụng khuôn thạch cao để tạo ra khuôn đồng - Dùng đất + chấu + giấy gió để làm khuôn âm bản Khuôn mở hay còn gọi là khuôn 2 nửa - Sau đó dùng đất bùn củ + chấu + bột chịu nhiệt làm cốt bên trong gọi là làm thao - Nung chín khuôn ở nhiệt độ 700 độ C, sau đó để nguội căn chỉnh độ dày mỏng của phần đồng, đạt theo yêu cầu kỹ thuật - Chỉnh sửa khuôn, lau nhẵn, quét sơn chịu nhiệt nung lại 1 lượt nữa ở nhiệt độ 500 độ C, ghép khuôn thành 1 khối 3 Nấu chảy nguyên liệu Nấu đồng ở nhiệt độ 1200 độ C, khi đồng chảy hết pha tỷ lệ Thiếc + Chì + Kẽm theo yêu cầu, chỉnh nhiệt độ là 1250 độ C, nước đồng lỏng đạt theo yêu cầu lúc đó đưa ra và rót vào khuôn * Lưu ý - Không thể nấu đồng ở dạng nguyên chất 100%, nên phải dùng các hợp kim trên để làm giảm nhiệt độ sôi của đồng dễ dàng nấu chảy. + Đồng vàng có tỷ lệ 60% đồng + Thiếc, Chì Kẽm + Đồng đỏ có tỷ lệ 95% đồng + Thiếc, chì, kẽm - Khi pha kim loại vào từng thành phẩm các nghệ nhân phải có kinh nghiệm pha chộn các hỗn hợp kim loại lại với nhau - Ví dụ +Đối với tượng bán thân tỷ lệ cần pha Đồng 92% + Thiếc 5% + Chì 3% +Nhưng đối với tượng ngoài trời thì tỷ lệ Đồng 85% + Thiếc 9% + Chì 3% + Kẽm 2% + Ni Ken 1% - Tuỳ theo từng thành phẩm mà các nghệ nhân pha trộn khác nhau 4 Rót khuôn Nấu và rót hợp kim vào khuôn - Trước khi đúc đồng và các hợp kim nóng chảy vào khuôn phải nung khuôn nóng đều, đủ độ nhiệt cho đồng chảy đều trong khuôn. Đây là khâu khó nhất phải nhờ kinh nghiệm của đôi mắt và khả năng phán đoán của nghệ nhân kinh nghiệm đảm trách 5 Hoàn thiện sản phẩm Công đoạn hoàn thiện sản phẩm - Sau khi khuôn nguội, dỡ khuôn lấy sản phẩm ra mài, giũa, đục, tách, mà rũa theo mẫu và con mắt của nghệ nhân phải đồng sắc - đồng khí mới đạt yêu cầu kỹ thuật, nghệ thuật. Khó đúc nhất là các loại sản phẩm có các thành phần chi tiết nhỏ, tượng chân dung Phật, người phải có thần thái; chuông, khánh đánh lên phải trong trẻo, ngân vang. - Sản phẩm đúc ra sau khi đã đạt tiêu chuẩn về hình dáng, kích thước, họa tiết phải tiến hành khâu làm nguội. Muốn làm được công đoạn này cần phải có dụng cụ riêng như cây khoan, bàn dũa, dao chấn đe... - Khâu quan trọng nhất là trạm, với rất nhiều dụng cụ chuyên dùng, nghệ nhân trạm có thể tạo ra các đường nét như ý đó là các đường "trạm án", "trạm chìm", "trạm đúc nổi" trạm dương bản. - Nghề khảm đồng cũng là một nghề đặc sắc ở - ý yên. Bản chất của công đoạn này là đưa vào bề mặt của sản phẩm những kim loại quý khác như vàng, bạc để tạo giá trị và tính nghệ thuật cao. - Trước tiên các nghệ nhân phải đục trên bề mặt sản phẩm tạo thành hình ảnh âm bản cho các hoạ tiết, thiết kế vừa khớp với những khối âm đã tạo ra từ các kim loại khác, tiếp theo là dát lại và đánh bóng bề mặt. - Thêm chất khí, khi đưa thêm một kim loại khác lên sản phẩm đồng gọi là khảm nhị khí, hai kim loại khác gọi là tam khí. - Đây cũng là một công đoạn được coi là công thức gia truyền của mỗi nghệ nhân. Nhờ đó mà người ta tạo được các màu sắc khác nhau thích hợp cho từng sản phẩm, kể cả các sản phẩm giả cổ có màu sắc hoen gỉ như đã qua hàng nghìn năm. Và đặc biệt là màu được giữ nguyên vẹn cho hàng trăm năm sau. Công Ty TNHH Đồng Mỹ Nghệ BẢO LONG là một trong những doanh nghiệp đúc đồng và chế tác đồ đồng lớn của làng nghề Tống Xá - Ý Yên - Nam Định. Cơ sở sản xuất gồm ba phân xưởng chính cùng nhiều xưởng vệ tinh, Sở hữu một đội ngũ các thợ giỏi và nghệ nhân xuất sắc, kinh nghiệm lâu năm. Chúng tôi đã sản xuất hàng trăm loại sản phẩm bằng đồng với mẫu mã và kích thước đa dạng, phong phú trong đó có các loại đồ thờ cúng, tượng đồng chân dung, tượng đài, tượng phật, tranh đồng, trống đồng, chuông, chiêng và các sản phẩm phong thủy, mỹ nghệ trang trí nội ngoại thất cao cấp, được kiểm soát từ đầu vào nguyên liệu cho đến đầu ra thành phẩm, đảm bảo sản phẩm khi đưa ra thị trường đến tay người dùng phải đạt tiêu chuẩn cả về thẩm mỹ và kỹ thuật…Với tiêu chí xây dựng một thương hiệu Đồ Đồng Cao Cấp, chúng tôi không ngừng học hỏi kinh nghiệm, chiêu mộ các nghệ nhân, thợ giỏi, phân chia và hoàn thiện các công đoạn chế tác, kiểm soát chặt chẽ trên từng khâu của quá trình sản xuất...tuyển trọn nguyên liệu đồng thanh khiết, sưu tầm và thiết kế rất nhiều mẫu mã độc đáo, đẹp mắt, chúng tôi không chỉ đáp ứng tốt nhu cầu những mặt hàng thông dụng, mà còn tạo ra nhiều sản phẩm đạt đến độ tinh tấn về kỹ thuật, đẳng cấp về thiết kế, đã và đang được nhiều khách hàng tiếp nhận. ⇒ Với những ưu thế vượt trội so với nhiều cơ sở khác chúng tôi luôn khẳng định sẽ đem đến cho quý khách hàng những sản phẩm thực sự chất lượng, đảm bảo những khách hàng khó tính nhất cũng phải hài lòng. Mang trong mình sứ mệnh gìn giữ và phát triển những giá trị của làng nghề truyền thống,Bảo Long mong muốn trở thành biểu tượng, niềm tự hào của giới thượng lưu Việt Nam. Hệ thống showroom Xưởng - Tống Xá - Ý Yên - Nam Định Cửa hàng 1 621 Đê La Thành - Ba Đình - Hà Nội Cửa hàng 2 277 Nguyễn Trãi - Thanh Xuân - Hà Nội Cửa hàng 3 65 Cộng Hòa - - Bình - Chí Minh HOTLINE Đồng gắn bó với nhân dân ta trong suốt trường kỳ lịch sử. Nó là chất kim loại quý được lấy làm bản vị của các giá trị trao đổi từ xa xưa cho đến tận gần đây. Trống đồng Đông Sơn của người Việt cổAn Nam tứ đại khí là gì?Cửu vị thần công là gì?Cửu đỉnh thần công là gì? Được xem là kim thoại thiêng để đúc tượng thờ, và nhiều đồ tế khí. Tuy nhiên, cũng lại gắn với sinh hoạt đời thường của mọi người. Dù sử dụng dưới góc độ nào, thì đồng thường được pha chế thành thỏi rồi gò dát, có khi sau đó còn gia công khắc rạch thêm. Với quy trình đúc, nghệ thuật điêu khắc đồng khá phức tạp, song có thể vượt lên những phá hoại của thời gian, là chất liệu đích thực của điêu khắc. Chính vì vậy, chúng ta cùng đi khám phá những thành tựu đúng đồng trong lịch sử như thế nào? Đồ đồng có bề dày lịch sử chỉ đứng sau các đồ đá, tre, gỗ, và gồm. Ở nước ta, đồng tham gia vào thế giới gỗ – gốm – đá từ 4000 năm trước. Chủ nhân của văn hóa Phùng Nguyên phân bố trong lưu vực sông Hồng, đã có những hoạt động chế tác đồng, còn để lại bằng chứng ở các di chỉ khảo cổ học. Chẳng hạn, di chỉ Gò Bông Phú Thọ đã tìm thấy những cục đồng, xỉ đồng chứng tỏ người Phùng Nguyên đã luyện kim tại chỗ, và phân tích thành phần các cục đồng gồm đồng và thiếc, chứng tỏ họ đã biết tạo ra hợp kim đồng thau. Tuy nhiên, nếu ở văn hóa Phùng Nguyên đồ đồng chưa lấn được thế lực của công cụ đá, nhưng nó đã bắt đầu cội nguồn của văn minh sông Hồng, thì sang giai đoạn văn hóa Đồng Đậu kế tiếp. Ở các di vật đã biểu hiện một sự kết thừa, nâng cao, đổi mới, thì đồ đồng đã khá phổ biến, chiếm khoảng ⅕ số công cụ và vũ khí với nhiều loại hình phong phú như rìu, dũa, lưỡi câu, mũi lao, mũi tên,… Quan trọng nữa là còn tìm được những khuôn đúc đồng bằng đá, bằng đất, có khuôn đúc một hiện vật, có cả khuôn cùng một lúc đúc nhiều hiện vật, tất cả đã khẳng định sự phát triển của kỹ thuật luyện kim đồng thau là đặc trưng quan trọng của văn hóa Đồng Đậu. Chuyển sang giai đoạn Gò Mun, cùng với nhiều hướng giảm sút của đồ đá về cả số lượng, loại hình, thì đồ đồng thau phát triển mạnh, chiếm ưu thế với tỷ lệ hơn 50% tổng số công cụ và vũ khí, mà bên cạnh những loại hình đã có còn sáng tạo thêm được rìu lưỡi xéo, dùng đồng làm cả đồ trang sức như vòng tay. Việc tìm ra, khẳng định các giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên – Đồng Đậu – Gò Mun là cống hiến quan trọng của giới khảo cổ học Việt Nam. Nó đã nối liền trực tiếp và liên tục từ thời đại đồ đá mới đến văn hóa Đông Sơn rực rỡ, khiến các học giả phương Tây phải choáng ngợp mà hoài nghi nguồn gốc. Ở đây, dưới góc độ đồ đồng, các giai đoạn trước đã chuẩn bị đầy đủ, đến văn hóa Đông Sơn thì đồ đồng đạt đến mức hoàn hảo cả về kỹ thuật và nghệ thuật. Cho đến văn hóa Đông Sơn, đồ đá phần lớn chỉ còn để trang sức, đồ gốm nặng ý nghĩa thực dụng, tất cả bị đẩy lùi về phía sau đồ đồng. Ngày nay, chúng ta có bộ sưu tập đồ đồng Đông Sơn, gồm 60 loại hình phong phú, độc đáo với số lượng lớn, kích thước rất khác nhau. Có công cụ sản xuất trong nông nghiệp và trong thủ công nghiệp, có vũ khí đánh gần, đánh xa và phương tiện phòng vệ, có nhiều dụng cụ gia đình, đồ trang sức, nhạc khí và tượng nghệ thuật. Các loại hiện vật trên, chẳng những có nhiều loại kiểu dáng khác nhau, mà còn có trang trí đẹp, đòi hỏi người thợ thủ công cũng là nghệ nhân dân gian. Do đó, ngoài giá trị thực dụng, còn có giá trị nghệ thuật cao. Nổi trội lên ở văn hóa Đông Sơn, trở thành biểu trưng của văn minh sông Hồng, là trống đồng Đông Sơn được phân bố trên một địa bàn rộng lớn của vùng Đông Nam Á. Trong đó, riêng Việt Nam cho đến năm 1980 có 169 chiếc gồm 91 chiếc loại lớn và trung bình, và 78 chiếc trống minh khí. Các nhà sử học Việt Nam, đã khẳng định “miền Bắc Việt Nam được coi là một trung tâm xuất hiện và truyền bá sớm của trống đồng Đông Sơn”. Trống đồng Đông Sơn của người Việt cổ Trống đồng Đông Sơn cả về kỹ thuật đúc, nghệ thuật tạo dáng, trang trí là sáng tạo tuyệt vời của người Việt cổ. Trong đó, những hình trang trí phủ đầy bề ngoài trống, đã phản ánh trung thực con người, đương thời trong các hoạt động sản xuất, sẵn sàng chiến đấu, vui chơi, tín ngưỡng, và cả nhiều sinh vật gắn bó với con người. Do đó, đồng trước giai đoạn Đông Sơn chủ yếu là công cụ và vũ khí yêu cầu có độ cứng, độ sắc cao, nên hợp kim đồng thay có tỷ lệ đồng là 80% đến 90%, thiếc từ 10% đến 20%, còn hàm lượng chì rất thấp chỉ 0,01% đến 0,4% ngang với tỷ lệ vài tạp chất. Sang giai đoạn Đông Sơn, do đồng thau được dùng phổ biến, để đúc nhiều hiện vật mang tính nghệ thuật, người Đông Sơn đã biết giảm tỷ lệ đồng và thiếc, để tăng hợp kim đồng – thiếc – chì có độ dẻo, dễ điền đầy các chi tiết của khuôn đúc. Các di chỉ văn hóa Đông Sơn còn cung cấp cho ta một số nồi nấu đồng, khuôn đúc rìu, dao găm, giáo, chuông,… có cấu tạo khuôn, kỹ thuật làm khuôn chứng tỏ người thợ đúc đồng đương thời. Có đôi mắt bằng ngọc, đôi tay bằng vàng, mà còn có hiểu biết sâu sắc về kỹ thuật luyện kim, tạo được những lò nấu đồng chịu đựng được nhiệt độ rất cao 1400 độ C. Từ thế kỷ II trước Công nguyên, đất nước ta bị Bắc thuộc, cũng là lúc văn hóa Đông Sơn tiếp xúc với văn hóa Hán, nhưng vẫn còn giữ được trong vài thế kỷ. Cụ thể, ở nghề đúc đồng, trống đồng vẫn được đúc. Song, đã cải biên hay trá hình chậu úp, đồng thường được dùng để đúc những dụng cụ gia đình, những đồ tế tự, và những mặt hàng mỹ nghệ. Câu chuyện Mã Viện, sau khi đàn áp xong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, đã lùng tìm thấy rất nhiều trống đồng, và phá ra lấy đồng đúc ngựa tốt dâng vua Hán, chứng tỏ nghề đúc đồng thời đó vẫn ở một trình độ cao. Để kìm hãm, thậm chí nhằm phá hoại sâu xa thủ công nghiệp nước ta, thái thú Giao Chỉ là Tôn Tú, đã lùng bắt hàng nghìn thợ giỏi ta, đưa về Giang Đông dâng vua Ngô, để xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp, chắc hẳn trong đó, có những người thợ đúc đồng tài ba của nước ta. Theo Chu Khứ Phi, các thời Đường, thời Tống, và thời Nam Tống, bọn đô hộ phương Bắc, trong khi vơ vét tài nguyên nước ta, đã kéo bễ đỏ cả núi. Chắc chắn trong đó, có việc khai mỏ và đúc đồng, cùng phản ánh chính sách của bọn đô hộ, vừa kìm hãm vừa nuôi dưỡng ở mức nhất định, để khai thác đối với nghề đúc đồng của nước ta, mà bằng chứng cụ thể là quả chuông Thanh Mai mới được phát hiện năm 1986. Quả chuông này, được tìm thấy ở dưới độ sâu 3m5 trong bãi sa bồi ven sông Đáy, thuộc xã Thanh Mai huyện Thanh Trì – Hà Tây, có hình dáng giống như các quả chuông cổ Việt Nam còn thấy đúc từ thời Trần về sau, nhưng miệng thẳng chứ không loe ngang. Quai chuông đã làm thành đôi rồng, đấu lưng vào nhau uốn cong lên, thân chuông có những nhóm chỉ nối ngang và dọc, chia mặt chuông làm 4 ô trên và 4 ô dưới, để khắc bài văn có hai núm gỗ hình tròn, với 10 cánh hoa bao quanh. Bài văn chuông cho biết chuông được đúc năm Mậu Dần, hiệu Trinh Nguyên thứ 14, tức năm 798, nặng 90 cân Nam nay cân được 46kg, thân chuông cao 52cm, quai chuông cao 8cm. Chuông do Hội Tùy Hỉ của những người Hoa và những người Việt cùng đúc. Đây là một thành tựu xuất sắc của kỹ thuật đúc đồng ở thế kỷ VIII. Cách tạo dáng, cấu trúc và độ dày của hợp kim đồng thau, làm cho chuông có âm hưởng ngân vang, phù hợp với âm thanh của các lễ cầu nguyện như chính bài minh ghi rõ “Hồi tâm dụng phúc. Cùng tạo minh chung. Trời xa ứng nghiệm. Địa ngục tường minh. Tam đồ hết khổ. Bát nạn tiêu khuynh. Thân nay giả hữu. Muôn kiếp lưu danh. Cận kề Phật pháp. m hưởng cùng vang. Công danh xin gửi. Bất diệt vô sinh”. Trên cơ sở nguồn gốc sâu xa, từ văn hóa Phùng Nguyên và đỉnh cao ở văn hóa Đông Sơn, nghề thủ công được tồn tại khéo léo trong nghìn năm Bắc thuộc, không những về kỹ thuật, mà còn trở thành một chỗ dựa tinh thần, để bảo tồn văn hóa dân tộc. Trống đồng được xem như vị thần bản mệnh của dân tộc, được dân gian lập đền thờ. Trong đó, có đền Đồng Cổ đền Trống Đồng ở Đan Nê Thanh Hóa. Cho đến khi đất nước độc lập, nhà Lý đã rước thần trống đồng từ Đan Nê về Thăng Long, lập đền Đồng Cổ ở Bưởi để hàng năm triều đình đến tổ chức ăn thề. Nâng cao địa vị thần Trống Đồng lên tột đỉnh, nhà Lý cũng đồng thời phục hưng lại nghệ thuật đúc đồng. Đưa kỹ thuật đúc đồng lên một đỉnh cao mới, xây dựng những truyền thuyết và lịch sử hóa truyền thuyết về việc tổ đúc đồng, và những kỳ quan đồ uống. Để gây ấn tượng đậm, và niềm tin sâu, không chỉ ở đương thời mà truyền mãi về sau. Về ý định này, thực sự nhà Lý đã thành công, và nhờ đó mà đồ đồng, đã có một cuộc sống thần kỳ ở cả chính sử và dã sử. Sử sách còn ghi nhận nhiều lần đúc đồng, tạo ra những khí vật lớn và thiêng. Năm 1031, đúc chuông chùa Long Trì nặng 10,000 cân đồng, năm 1035 đúc chuông chùa Trung Quang nặng 6,000 cân đồng, năm 1041 phát 7,500 cân đồng để đúc tượng Phật, hai vị Bồ Tát và chuông lớn ở Viện Từ Thị Thiên Phúc, năm 1056 phát 12,000 đồng đúc chuông chùa Sùng Khánh Bảo Thiên,… Trong khí vật là chuông, thì nổi lên yêu cầu về tiếng phải vang ngân, người thợ đúc đồng đã khám phá ra một công thức hợp kim, là pha thêm kim loại quý vào để đúc phần vú chuông. Vì thế, năm đầu của vương triều mình, nhà Lý đã phát 1,680 lạng bạc để pha đúc chuông chùa Đại Giáo, năm 1014 phát 310 lạng vàng để pha đúc chuông chùa Hưng Thiên, và phát 800 lạng bạc để pha đúc chuông chùa Thắng Nghiêm,… Việc khai thác mỏ đồng, cũng được sử sách xác nhận. Chẳng hạn, từ năm 1198, tổ chức khai thác mỏ đồng lục ở Lạng Châu. Ký ức nhiều người còn ghi đậm truyền thuyết đã lịch sử hóa về ông Tổ đúc đồng, gắn liền với kỳ quan Tứ Đại Khí. Gạt đi những chi tiết thần kỳ về việc tu luyện và chữa bệnh, chỉ riêng ở phạm vi đúc đồng, thì mỗi nơi kể đều địa phương hóa để tự hào, nhưng cái chung là. Vào thời Lý, sư Không Lộ mang một cái túi nhỏ sang Trung Quốc quyên giáo đồng, được vua Trung Quốc cho vào kho, sư bèn làm phép thu tất cả đồng vào túi rồi tìm cách về nước. Về nước, sư đúc một quả chuông lớn, khi đúc xong đánh thử, tiếng vang truyền sang tận Trung Quốc khiến con trâu vàng ở kho tưởng mẹ gọi bèn lồng sang ta. Sợ tiếng chuông làm các nước mất hết vàng, sẽ gây thù oán với ta, sư bèn vất chuông xuống hồ nước, trâu vàng cũng xuống hồ theo. Số đồng còn lại, sư cho đúc bốn khí vật lớn là chuông Quy Điền, tháp Bảo Thiên, Phật chùa Quỳnh Lâm và vạc chùa Phổ Minh. An Nam tứ đại khí là gì? An Nam Tứ Đại Khí là một trong bốn bảo vật quốc bảo, kỳ quan của văn hóa thời Lý và thời Trần với bốn công trình nghệ thuật bằng đồng tinh xảo và điêu luyện. Cả bốn khí vật này, đều đã mất từ lâu. Trong đó, hai khí vật ở Thăng Long chuông Quy Điền và tháp Bảo Thiên được gán cho quân Minh phá năm 1426, để lấy đồng đúc vũ khí chống lại nghĩa quân Lam Sơn. Nhưng… truyền thuyết kết hợp với sử sách và văn bia còn xác nhận. – Chuông Quy Điền. Chùa Một Cột xây năm 1049, đến năm 1101 nhân sửa chùa, có đúc một quả chuông lớn. Chuông đúc xong nặng không thể treo lên được, bèn để ở ruộng nước có nhiều rùa, nhân đó thành tên chuông Quy Điền. – Tháp Bảo Thiên. Chùa Bảo Thiên xây bên cạnh hồ Lục Thủy hồ Hoàn Kiếm ngày nay vào năm 1056, năm sau tại sân chùa xây cây tháp Đại Thắng Tư Thiên cao vài mươi trượng. Gồm 12 tầng, tầng dưới bằng đá, các tầng trên bằng đồng, trên đỉnh tháp có tượng tiên nữ bưng mâm ngọc, hứng móc ngọt. Cho đến đời Tây Sơn, còn thấy nền tháp với một số tượng đá đẹp. – Phật chùa Quỳnh Lâm. Chùa Quỳnh Lâm ở Đông Triều, có tượng Phật Di Lặc cao 6 trượng, đặt trong tòa điện cao 7 trượng, đứng xa mười dặm còn trông thấy rõ. – Vạc Phổ Minh. Chùa Phổ Minh ở Nam Định có chiếc vạc mà hai người chạy đuổi nhau trên miệng được. Có tài liệu nói, vạc này sâu 4 thước, rộng hơn 10 thước, và nặng 6,150 cân. Thời Trần sử sách ít nói đến đồ đồng, nhưng việc sử dụng rộng rãi trống đồng trong các lễ nghi long trọng, và tác dụng lớn lao của tiếng trống đồng đã được xác nhận chắc chắn. Đời vua Trần Nhân Tông 1270-1293 trong cuộc đón sứ nhà Nguyên, đã cho đánh trống đồng giữa những hàng lính cầm gươm giáo sáng lóa, khiến sứ giả Trần Cương Trung phải run sợ thú nhận “Kim qua ảnh lý đan tâm khổ. Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh” Dịch nghĩa Thấy gươm sắt lóe sáng lòng đau khổ. Nghe tiếng trống đồng sợ bạc cả đầu. Tiếng trống đồng đón sứ Nguyên thế nào không rõ, nhưng đền thờ thần Trống Đồng ở Đan Nê còn có biển ghi rõ “Treo lên đánh thấy tiếng giống tiếng trống mà mạnh hơn, giống tiếng chuông mà ngân, giống tiếng khánh mà êm”. Và chắc chắn, là một số hiện vật bằng đồng của thời Trần đã được phát hiện. Đó là đôi vòng để mắc cáng? và đôi bàn đạp yên ngựa tìm thấy trong mộ vua Trần ở Yên Sinh, được đúc khéo, trang trí đẹp với hình rồng, điển hình của nghệ thuật thời Trần. Và đặc biệt, là quả chuông ở những ngôi chùa thuộc vùng biên giới ba phía của đất nước. Chuông chùa Bình Lâm ở Cao Bằng, đúc năm Ất Mùi, niên hiệu Hưng Long, tức năm 1295, được phát hiện năm 1978, chuông chùa Vân Bản ở Hải Phòng, được vớt ở vùng biển Đồ Sơn năm 1958, và chuông chùa Rối ở Hà Tĩnh phát hiện năm 1990. Hai quả chuông sau tuy không ghi niên đại, nhưng với kiểu dáng hoa văn trang trí và một số quan tước cùng tên người, chắc chắn thuộc cuối thời Trần. Những quả chuông này, dù tìm thấy ở dưới nước biển chuông chùa Vân Bản hay trong lòng đất chuông chùa Rối. Đều không bị sự phá hoại của môi trường, chứng tỏ một kỹ thuật luyện kim cao, tất cả đều thuộc loại chuông lớn, với kiểu dáng ổn định khá giống nhau. Có thể lấy chuông chùa Vân Bản để xem xét. Chuông cao 1,27m cả quai, miệng rộng 0,74m, dáng phát triển từ chuông Thanh Mai, với sáng tạo là miệng loe hình cánh sen và có 6 núm đánh, con rồng ở quai treo vẫn còn mào lửa, nhưng văn dạng chữ S vốn không thể thiếu ở rồng thời Lý thì nay, chỉ còn ở một má. Văn chuông cho nhiều tài liệu quý về xã hội đương thời. Thời Lê sơ hiện vật đồng còn lại ít, cơ bản là những đồng tiền đồng vốn đã có từ thời Đinh, mà sau đấy tất cả các nhà nước quân chủ độc lập của nước ta, đều cho đúc và lưu hành rộng rãi. Thời Mạc, ngoài tiền còn có hai quả chuông đồng lớn cao 1,55 mét và 1,75 mét ở chùa Viên Minh tức chùa Đà Quận thuộc tỉnh Cao Bằng, đúc năm Tân Hợi, niên hiệu Kiền Thống 19, tức năm 1611, dáng cơ bản gần chuông thời Trần. Song, kỹ thuật đúc do có thêm nhiều sắt trong hợp kim, nên có màu gần với gang và mặt bị sần oxide hóa. Sang thời Lê Trung Hưng, dù năm 1776, khi chiếm được Đàng Trong, nhà nước Lê – Trịnh đã cho phá những súng đồng nòng rộng không dùng được, những đồ đồng nặng không mang đi được, những đỉnh to vạc lớn nặng 700 cân đến 800 cân trở xuống,… lấy được của chúa Nguyễn để đúc tiền. Và ở Đàng Ngoài, sau lần thu vét đồng năm 1740 của vua Lê Cảnh Hưng. Năm 1786, vua Lê Chiêu Thống theo lời tâu của Nguyễn Hữu Chỉnh lại cho thu vét chuông đồng, tượng đồng ở các chùa đền, để lấy đồng đúc tiền. Với những hành động trên, chắc chắn rất nhiều khí vật quý bằng đồng đã bị thu phá, để đúc thành tiền. Thế nhưng, chẳng những một số đồ đồng của thời Mạc trở về trước. Ngày nay vẫn còn, mà cũng còn giữ được khá nhiều đồ đồng của thời Lê Trung Hưng kể cả ở Đàng Trong, từ những hiện vật nhỏ như đồng tiền, đến những hiện vật lớn và rất lớn là tượng, chuông và vạc. Nổi trội lên trong nghệ thuật đúc đồng thời Lê là tượng Trấn Vũ ở đền Quan Thánh Hà Nội bằng đồng hun đúc năm Vĩnh Trị 2 1677 cao khoảng 9 thước 3m72 nặng 6,600 cân 4,000 kg. Thể hiện một vị thần là đạo sĩ ngồi xõa tóc, chân để trần, tay trái bắt quyết, tay phải chống gươm, thân gươm có rắn quấn, và chống lên lưng rùa. Tượng Trấn Vũ chẳng những là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, mà về kỹ thuật đúc đồng đã đánh dấu một đỉnh cao. Chính vì thế, mà tác giả của pho tượng đồng này là nghệ nhân Trùm Trọng, cũng được tạc tượng đá cao bằng người thực, và để thờ trong khám ở sát hồi tường bên trái của tòa điện chính. Đó là sự tôn vinh cao nhất đối với người nghệ nhân. Đàng Trong là vùng đất mới, các chúa Nguyễn khi vào trấn thủ đã tìm mọi cách thu hút dân ngoài Bắc vào theo. Trong đó, có những người thợ đúc tài giỏi, và trong mưu đồ cát cứ đã xây dựng một số công trình, để khẳng định quyền lực của mình. Dưới góc độ nghề đúc đồng, các chúa Nguyễn ở từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XVIII đã để lại những vạc, chuông rất đặc sắc, hiện còn một số ở Huế. Hiện còn giữ được 10 chiếc vạc lớn đều đúc ở thế kỷ XVII. Trong đó, nổi lên hai chiếc vạc ở sân trước các nhà Tả vu và Hữu vu trong Đại Nội, đúc vào các năm 1660 và 1662, cao 1m5, cả quai cao 1m3, miệng rộng 2m22, chu vi gần 6m, nặng xấp xỉ nhau, chiếc lớn nhất là 2582 cân, dáng thành đứng miệng loe. Mặt ngoài thân chia ra các dải ngang. Trong đó, lại chia ô, mỗi ô là một hình trang trí hoa lá và nhất là chim thú hầu hết chuyển động ngược chiều kim đồng hồ là chuyển động thuận đã được xác định từ trống đồng Đông Sơn. Chuông đồng ở Đàng Trong không nhiều như ở Đàng Ngoài. Song, lại có quả chuông to nhất và rất đặc sắc ở chùa Thiên Mụ, được gọi là Đại Hồng Chung đúc năm 1710, thân cao 1m9 nếu kể cả bồ lao treo là 2m47, miệng rộng 1m42, chu vi thân 3m61, nặng 3,285 cân 8 lạng 2,052 kg. Với nhiều hình trang trí đẹp gồm rồng, mây, tinh tú, và bát quái, được đúc rất mịn, tiếng vang ngân chứng tỏ một kỹ thuật luyện kim đồng thau đạt tới đỉnh cao. Những vạc và chuông lớn này, đã vượt lên trên lệnh phá năm 1740, và 1776 của nhà Lê – Trịnh. Do lệnh thu vét đồng của vua Lê Cảnh Hưng và vua Lê Chiêu Thống, nhiều chùa ở ngoài Bắc đã bị mất chuông, khi nhà Tây Sơn lên đã cố gắng khắc phục, nhất là trong thời Cảnh Thịnh, khắp nơi tổ chức đúc lại chuông chùa, quán. Ngày nay, tuy chưa tổ chức điều tra tổng thể, nhưng chúng tôi cũng nắm được sơ yếu lý lịch của gần trăm quả chuông thời Tây Sơn, phần lớn cao trên 1m20, một số quả cao tới 1m50, có quả cao tới 1m74 như chuông chùa Thầy Hà Tây. Được tạo dáng đẹp với tỷ lệ chiều cao thường gấp đôi chiều rộng, bồ lao treo là hai hoặc một con rồng hoàn chỉnh. Những quả chuông này, chẳng những quý mà còn là vật thiêng thông truyền sự giác ngộ, như bài văn chuông chùa Bộc Hà Nội vốn đúc năm 1795 sau đúc và khắc lại ở thời Nguyễn. “Từng nghe Dường như không mà lại có, đạo do phương tiện mà hình ra được. Có lòng mộ cảm tất thông được với đạo, âm thanh vang vọng rất xa. Công đức nhỏ có thông báo nhỏ, công đức lớn có thông báo lớn. Còn đối với chuông gõ nhỏ thì kêu nhỏ, gõ mạnh thì tất kêu to,… Phật vốn nhìn vào mà không thấy, còn có chuông thì nhìn thấy cái cần thấy. Phật vốn là nghe mà không nghe thấy, còn có chuông thì nghe được cái cần nghe,… Ở chốn chùa chiền có tiếng chuông làm cho người ta được như ở trên trời, được nghe tiếng sáo vang vọng không trung. m thanh của chuông không bao giờ dứt. Phật cũng không thể bị tắt chìm đi. Tuy vậy, cái ẩn náu ở cái không thì khó, mà biết được thế nào, còn cái được thể hiện ở cái có thì là cái nhìn và cái nghe được chăng?” Nghề đúc đồng để lại nhiều thành tựu xuất sắc ở thời Nguyễn. Mặc dù, năm 1813, vua Gia Long cấm nhân dân Bắc Kỳ xây dựng chùa quán cùng với việc đúc tượng và đúc chuông. Nhưng nhiều nơi nhân dân vẫn đúc chuông. Trong đó, tiêu biểu là quả chuông chùa Bút Tháp Bắc Ninh đúc năm 1815, cao tới 1m52, miệng rộng 0m71. Các đời vua sau đó, càng đúc nhiều chuông, hầu hết chuông đời Tự Đức là loại chuông lớn, như chuông chùa làng Chèm Hà Nội đúc năm 1878, cao 1m41, miệng rộng 0m68. Nhưng… thành tựu đúc đồng thời Nguyễn, nổi trội vẫn là ở Huế, mà tiêu biểu là các bộ cửu vị thần công và cửu đỉnh. Cửu vị thần công là gì? Cửu vị thần công là chín khẩu đại bác lớn, được đặt tên là Xuân Hạ Thu Đông và Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, đều được triều đình Huế phong là Thần Uy Vô Địch Thượng Tướng Công. Từng khẩu đều dài tới 5m10 và nặng trung bình tới 17,500 cân, thân súng được chạm tỉ mỉ hoa lá, còn khắc rõ danh hiệu, vị thứ, trọng lượng, cách sử dụng và niên đại Bính Tý năm Gia Long 15, tức 1816. Bộ cửu vị thần công này, là những khí vật bằng đồng khổng lồ hiện còn. Nhưng đúc hoàn hảo cả về kỹ thuật và nghệ thuật, được mọi người quan tâm đến nhiều hơn cả, lại là bộ cửu đỉnh. Cửu đỉnh thần công là gì? Cửu đỉnh thần công là chính chiếc đỉnh, đặt ở sân Thế Miếu, mang các tên Cao – Nhân – Chương – Anh – Nghị – Thuần – Tuyên – Du – Huyền muốn biểu hiện một vòng lịch đại đầy đủ. Trong đó, Cao là thế hệ khởi đầu và Huyền là thế hệ truyền nối xa nhất. Tất cả đều ghi rõ đúc năm Ất Mùi, niên hiệu Minh Mạng 16, tức 1835. Dáng chung của các đỉnh như một lư hương tròn có ba chân cao, bề thế, được xem như tác phẩm điêu khắc hoành tráng. Xung quanh bầu đỉnh còn nổi một mảng tên đỉnh, và 17 mảng các hình chạm nổi về cảnh trí đất nước, tinh tú, hiện tượng thiên nhiên, và các sinh vật xem như những phù điêu treo xung quanh đỉnh. Từng chiếc, trọng lượng, kích thước có xê dịch, nặng từ 3,201 cân đến 4,307 cân, và cao từ 2m31 đến 2m5 cả quai, chu vi bầu từ 5m5 đến 5m7. Đã có nhiều người bàn đến kỹ thuật đúc đỉnh, với những hình chạm nổi. Xu hướng chung cho là đúc liền khuôn, và như thế việc làm khuôn đúc khá phức tạp, được giải quyết mỹ mãn. Sang thế kỷ chúng ta, để khai thác nghề đúc đồng cổ truyền. Ngay từ năm 1907, chính quyền thực dân Pháp đã mở trường Mỹ Nghệ Đồ Gốm và Đúc Đồng ở Biên Hòa. Nhưng thành tựu nổi trội về nghề đúc đồng, vẫn nằm ở trong dân gian và ở ngoài Bắc. Tuy mục đích chính của nghề đúc đồng bây giờ không phải làm cho Nhà nước, hay cho các điện thờ tôn giáo, mà là làm những đồ gia dụng của nhân dân với kích thước nhỏ. Song, khi cần đúc những tác phẩm nghệ thuật lớn, các nghệ nhân đúc đồng vẫn có thể thực hiện thành công tốt đẹp nhất. Điển hình là việc nhân dân phường đúc đồng Ngũ Xã Hà Nội đã đúc cho chùa Làng Minh, pho tượng Phật A Di Đà vào năm 1952, cao 3m95, chu vi 11m6, hai đầu gối cách nhau 3m60. Riêng tượng nặng 12,300 kg tương đương 19,680 cân. Ngoài ra, còn đài sen để đặt tượng có 96 cánh nặng 1600kg đồng nữa tương đương 2560 cân. Như vậy, cả tượng và đài sen đều bằng đồng, nặng 22,240 cân đồng, vượt xa mọi khí vật cổ truyền hiện còn. Thành tựu của nghề đúc đồng Việt Nam, suốt chiều dài lịch sử 4,000 năm dựng nước, còn để lại đến nay chỉ một phần. Song, thật đáng ngạc nhiên. Trên cơ sở ấy, chúng ta hoàn toàn tin tưởng ở triển vọng nghề đúc đồng ngày nay. Chu Quang Trứ Xem thêm bài viết Giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa nghề thủ công nghệ thuật Bạn đang xem bài viết Nghề đúc đồng là một nghệ thuật điêu khắc đồng khá phức tạp Link

trong việc đúc đồng