Hướng dẫn trả lời câu hỏi các đề Chiều hôm nhớ nhà Đọc hiểu chi tiết, bám sát nội dung đề thi. Chiều hôm nhớ nhà Đọc hiểu - Đề số 1. Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi: Chiều hôm nhớ nhà Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn.
Chiều Hôm Nhớ Nhà Của Bà Huyện Thanh Quan admin - 02/06/2021 165 Trong làng mạc thơ nước ta, bao gồm bạn nữ sĩ còn lại đến thơ ca dân tộc bản địa phần lớn dấu ấn rất đẹp.
3. Trần Trung Viên, Văn đàn bảo giám, NXB Văn học, 2004. Bài thơ “Chiều Hôm Nhớ Nhà” trong nhiều tác phẩm thơ ca, tập thơ của Bà Huyện Thanh Quan. Thuộc danh mục thơ Nguyễn Thị Hinh một trong những Nhà Thơ Việt Nam Vĩ Đại Và Tiêu Biểu. Hãy cùng đọc và thưởng thức nhiều
thêm danh từ thích hợp vào chỗ ba chấm Đọc xong bụng dạ bồn chồn b.. căng căng cứng nhớ người yêu giá như hôm ấy cứ liều thì nay đâu phải chiều chiều
Cách Vay Tiền Trên Momo. CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ Bà Huyện Thanh Quan “ Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” Qua đèo Ngang “ Nhớ nước” – “ Thương nhà” là hai dòng tình cảm sâu sắc của Bà Huyện Thanh Quan. “ Nhớ nước”, bà có bài thơ “ Thăng Long thành hoài cổ”, “ Thương nhà”, bà có bài thơ “ Chiều hôm nhớ nhà”. Dưới triều Tự Đức, bà được mời về kinh nhậm chức Cung trung giáo tập để dạy các công chúa, cung phi. Sống trong cung đình, nhưng bà tự coi mình như kẻ “ lữ thứ”, tấm lòng của bà luôn luôn hướng về chốn “ Chương Đài”. Tâm sự thương nhà của bà được diễn tả một cách tài hoa trong bài thơ “ Chiều hôm nhớ nhà” “ Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn Gác mái, ngư ông về viễn phố Gõ sừng, mục tử lại cô thôn. Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu sương sa khách bước dồn, Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?” Bà Huyện Thanh Quan đã chọn luật bằng vần bằng cho bài thơ “ Chiều hôm nhớ nhà” Bài “ Thăng Long thành hoài cổ” là luật trắc vần bằng hợp với điệu hoài cảm của tâm hồn thi nhân. Mở đầu bài thơ là hình ảnh buổi hoàng hôn với điệu nhạc chiều êm ái, thổn thức “ Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn” Trong cả ba bài thơ nổi tiếng, bà Huyện Thanh Quan đều nói đến chiều tà. “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà” Qua đèo Ngang “ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” Thăng Long thành hoài cổ “ Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn” Từ “ bảng lảng ” tả ánh sáng buổi hoàng hôn thật là đặc sắc. Cảm nhận về ánh sáng như vậy thật là thi sĩ. “ Bảng lảng” là ánh nắng đã nhạt, loãng, yếu ớt của buổi chiều tàn. Ánh nắng hạ xuống thì nhạc chiều nổi lên . Điệu nhạc trầm buồn của “ tiếng ốc” từ xa đưa lại , tiếng trống cũng xa, chỉ nghe văng vẳng nhưng dồn dập thổn thức. Cái tôi trữ tình của thi nhân lặng phía sau hình ảnh và âm thanh . Cái gì nữ sĩ nhìn thấy , gần gũi thì nhạt nhòa, tàn phai. Nữ sĩ lắng nghe, đón nhận những âm thanh vang từ xa, cho nên khúc nhạc chiều trầm buồn đó cũng là khúc nhạc lòng của thi nhân. Nhà thơ mở rộng không gian của buổi hoàng hôn, trở về với những hình ảnh gần gũi thân quen của những người lao động “ Gác mái , ngư ông về viễn phố Gõ sừng, mục tử lại cô thôn” Bà Huyện Thanh Quan vẫn không thoát khỏi những đề tài “ ngư , tiều, canh, mục” quen thuộc trong thơ cổ điển . Nhưng bà vẫn có sáng tạo riêng. Bà chỉ chọn hai nhân vật cho buổi “ chiều hôm” là “ ngư ông” và “ mục tử”. Nét linh hoạt của câu thơ là ở những cử chỉ của nhân vật. Hai cử chỉ nghịch nhau mà lại cùng diễn tả một ý tưởng . “ Gác mái” là ngư ông nghỉ ngơi, đảo vị ngữ “ Gác mái” càng nhấn mạnh sự nghỉ ngơi thư thái của ngư ông. “ Gõ sừng” cũng được đảo ra phía trước để nhấn mạnh cử động của mục tử người chăn trâu nhưng là cử động trở về, nghỉ ngơi. Nhưng cả ngư ông và mục tử trên đường trở về đều có khoảng cách “ ngư ông về viễn phố”, ngư ông về bến xa, “ mục tử lại cô thôn”, người chăn trâu về xóm lẻ loi. Khoảng cách ấy cũng là khoảng cách trong lòng thi nhân với quê hương xứ sở của mình, thành ra có ba con người , ngư ông, mục tử và nữ sĩ chẳng gắn bó gì với nhau cả lại cùng giống nhau ở một điểm là chiều hôm, mỗi người đều hướng về nơi chốn thân yêu của mình. Tóm lại, hai câu thực đã thể hiện một cách tài hoa chủ đề “ chiều hôm nhớ nhà”. Chuyển sang hai câu luận, không gian thơ được mở lên chiều cao với những hoạt động của thiên nhiên trong buổi “ chiều hôm” “ Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn” Hình ảnh thật đẹp , thật gợi cảm. Nhà thơ đã chọn được những tín hiệu thẩm mĩ có khả năng diễn tả tâm tình của thi nhân. Hình ảnh “ ngàn mai gió cuốn” vừa rộng lớn, thoáng , vừa sôi động. Rừng mơ bạt ngàn càng thấy sự lẻ loi đơn chiếc của thi nhân , hình ảnh “ gió cuốn” gợi sự xao động bên trong của nữ sĩ . Hình ảnh cánh chim chiều “ bay mỏi” cũng gợi tâm trạng của thi sao giữa không gian bạt ngàn của rừng mai mà nhận ra “ chim bay mỏi”? Phải có con mắt rất tinh, nhưng như thế vẫn chưa đủ, phải là con mắt của tấm lòng. Còn “ dặm liễu” thì thơ mộng mà “ dặm liễu sương sa” thì vừa thơ mộng vừa lạnh lẽo. Cái lạnh của sương chiều đã thúc bước chân của người đi đường “ khách bước dồn”. Cái hay của hai câu luận là không gian được mở ra với những hình ảnh đẹp, thơ mộng, gợi cảm và chủ đề “ Chiều hôm nhớ nhà” cũng mở ra đến chiều sâu thẳm. Chỉ tiếc là từ “ dồn” bước dồn trong câu luận đã lặp lại từ “ dồn” trống dồn trong câu thừa đề khiến cho bài thơ nghèo đi một chút. Dòng tình cảm ngầm chảy suốt qua các hình ảnh và nhạc điệu đến đây lộ ra tha thiết, nồng nàn “ Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?” Nữ sĩ dùng những từ phiếm chỉ như “ kẻ”, “người”, “ai” vừa thuận với thi pháp “ phi ngã” không có cái tôi thời bấy giờ mà cũng vừa hợp với tâm tình của thi nhân , tha thiết nhưng không ủy mị người trí mà!, nồng nàn nhưng vẫn e ấp. “ Kẻ chốn Chương Đài” là tác giả dùng điển cố. Xưa có người gửi thư về cho vợ là Liễu Thị hỏi “ Cây liễu Chương Đài xanh xanh trước kia nay còn không?”. Và từ đó “ Chương Đài” thành ước lệ quê nhà trong văn chương . “ Kẻ chốn Chương Đài , người lữ thứ” là kẻ ở quê nhà, người ở quán trọ lữ thứ xa xôi cách trở. Nữ sĩ dùng chữ “ lữ thứ “ thật bất ngờ. Bà đang dạy học cho các công chúa và cung phi trong cung vua, còn đâu hoa lệ và sang trọng hơn?. Vậy mà nữ sĩ coi đấy cũng chẳng qua là quán trọ. Tác giả dùng từ Hán Việt “ lữ thứ ” phần nào trung hòa được tinh thần ngạo mạn của bà. Cho nên trong sâu thẳm tình cảm nhớ nhà của bà là tình nhớ nước. Bà chẳng tha thiết, chẳng gắn bó gì với triều đại đương thời, nữ sĩ cảm thấy như bị lưu đày nơi đất khách quê người. Và câu hỏi tu từ “ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?” càng trào dâng lên nỗi nhớ nhà của kẻ “lữ thứ”. Bài thơ “ Chiều hôm nhớ nhà” được Bà Huyện Thanh Quan viết theo bút pháp tả cảnh gợi tình quen thuộc trong thơ cổ điển. Từng hình ảnh , từng âm thanh đều gợi đến tâm trạng nhớ nhà của nữ sĩ. Nỗi nhớ nhà của nữ sĩ thật là thâm trầm, sâu sắc, nhân bản. Trong quan hệ xã hội, bà không được chia sẻ, sống với một triều đại mà bà chỉ hướng về ánh hào quang của quá khứ, “ một mảnh tình riêng ta với ta “ Qua Đèo Ngang nên bà dồn tình cảm nhớ thương cho gia đình , cho những người thân yêu. Trước tình trạng lỏng lẻo của những mối quan hệ gia đình hiện nay thì một tiếng thơ cũng là tiếng lòng của Bà Huyện Thanh Quan cũng có giá trị tinh thần nhân bản, cao quý của gia đình. Sưu tầm
Tất cả Lớp 12 Lớp 11 Lớp 10 Lớp 9 Lớp 8 Lớp 7 Lớp 6 Lớp 5 Lớp 4 Lớp 3 Lớp 2 Lớp 1 Cho bài thơ sau và trả lời câu hỏi + Giải thích nghĩa của các từ đó."Chiều hôm nhớ nhàChiều chiều bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa vẳng trống đềnGác mái ngư ông vào viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mai gió cuốn chim bay mỏiDẵm liệu sương sa khách bước dồnKẻ trốn Trương Đài, người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn." Đề bài Tìm từ Hán Việt trong bài thơ sau. Em hiểu nghĩa của các từ đó như thế nào? Theo em các từ Hán Việt sẽ đem đến cho bài thơ một không khí như thế nào? Chiều hôm nhớ nhàChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa lẫn trống dồnGác mái ngư ông về Viễn PhúGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mây gió cuốn chim bay mỏiDăm liễu sương sa khách bước dồnKế chốn Chương Đài người Lữ thứ Từ Hán Việt hoàng hôn,xa, ngư ông, viễn phố, mục tử, cô thôn, mai, liễu, sương, khách, Chương Đài, lữ thứ, hàn Hán Việt đem lại sắc thái trang trọng , sắc thái tao nhã, sắc thái khái quát và trừu tượng , sắc thái cổ . Chúc bn học tốt !!! Đề bài Tìm từ Hán Việt trong bài thơ sau. Em hiểu nghĩa của các từ đó như thế nào? Theo em các từ Hán Việt sẽ đem đến cho bài thơ một không khí như thế nào? Chiều hôm nhớ nhàChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa lẫn trống dồnGác mái ngư ông về Viễn PhúGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mây gió cuốn chim bay mỏiDăm liễu sương sa khách bước dồnKế chốn Chương Đài người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn mk vs nha mọi người. Thanks mọi người nhìu!!! Từ Hán Việt bảng lảng, hoàng hôn, ngư ông, viễn phố , cô thôn , mục tử_Từ Hán -Việt sẽ đem đến cho bài thơ 1 ko khí + Sắc thái trang trọng+ Sắc thái tao nhã+ Sắc thái khái quát và trừu tượng+ Sắc thái cổ Đề bài Tìm từ Hán Việt trong bài thơ sau. Em hiểu nghĩa của các từ đó như thế nào? Theo em các từ Hán Việt sẽ đem đến cho bài thơ một không khí như thế nào? Chiều hôm nhớ nhàChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa lẫn trống dồnGác mái ngư ông về Viễn PhúGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mây gió cuốn chim bay mỏiDăm liễu sương sa khách bước dồnKế chốn Chương Đài người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn mk vs nha mọi người. Thanks mọi người nhìu!!! Theo mình thì cậu tìm từ nào thuộc Ấn Âu thì loại nó ra , còn nhiêu là từ Hán ViệtMình không chắc , xin lỗiChúc bạn học tốt ! Đề bài Tìm từ Hán Việt trong bài thơ sau. Em hiểu nghĩa của các từ đó như thế nào? Theo em các từ Hán Việt sẽ đem đến cho bài thơ một không khí như thế nào? Chiều hôm nhớ nhàChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa lẫn trống dồnGác mái ngư ông về Viễn PhúGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mây gió cuốn chim bay mỏiDăm liễu sương sa khách bước dồnKế chốn Chương Đài người lữ thứGiúp mk vs nha mọi người. Thanks mọi người nhìu!!! Hãy giải thích nghĩa của các từ gạch chân. Các từ Hán Việt tạo sắc thái gì cho bài trời bảng lảng bóng Hoàng hônTiếng ốc xa đưa lẩn trống đồn Gác mái ngư ông ngư về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mai giờ cuốn chim bay mỏiDặm liễu sương xa cách bước đồnKẻ chốn Chương Đài người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn. hoàng hônkhoảng thời gian mặt trời mới lặn,ánh sáng yếu ớt và mờ dần-ngư ôngngười đàn ông làm nghề đánh cálữ thứxa quê-hàn ônrét và ấmchuyện hàn ôn là chuyện lúc gặp nhau kể lể tin tức thân mật CHIỀU HÔM NHỚ NHÀTrời chiều bảng lảng bóng hoàng ốc xa đưa vẳng trống mái, ngư ông về viễn sừng mục từ lại cô mai gió cuốn chim bay liễu sương sa khách bước chốn Chương Đài, người lữ ai mà kể nỗi hàn ôn?Chiều hôm nhớ nhà là một đề tài quen thuộc, được nói đến trong nhiều bài thơ nổi tiếng như Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu, Ngắm cảnh chiều ở Hán Dương của Nguyễn Du. Nhưng với Bà Huyện Thanh Quan, chủ đề đó đã được ghi dấu ấn đậm nét bằng một phong cách sử dụng từ Hán đầu bài thơ, nhà thơ lựa chọn những tín hiệu thẩm mỹ đặc trưng của thời gian chiều tà hoàng hôn của thiên nhiên và hoàng hôn của cuộc sống con người. Từ hoàng hôn không chỉ để thông báo khoảng thời gian chen lấn giữa đêm và ngày mà nó còn tạo nên cảm giác về một thiên nhiên vắng vẻ và buồn. Cuộc sống của con người được tác giả ghi lại bằng hai chi tiết của cảnh chiềuGác mái ngư ông về viễn sừng mục tử lại cô điệu câu thơ chậm rãi, ngắt thành 3 nhịp Gác mái/ ngư ông/ về viễn phố - Gõ sừng/mục tử/ lại cô thôn. Sự đối xứng giữa các từ ngữ, hình ảnh làm cho cảnh sinh hoạt ở đây có sự vận động nhưng vẫn man mác buồn. Cái hay của bài thơ là ở chỗ từ hình ảnh quen thuộc của ông lão đánh cá và trẻ chăn trâu, nơi bến xa, thôn vắng đã được tác giả sử dụng bằng những từ Hán Việt trang trọng ngư ông, viễn phố, cô thôn, tạo nên không khí tĩnh lặng, cảnh chiều thêm tĩnh mịch và ẩn chứa một nỗi niềm man mác, bâng khuâng của lòng người. Trong cảnh thiên nhiên buồn vắng đó xuất hiện hình ảnh của con ngườiNgàn mai gió cuốn chim bay liễu sương sa khách bước cánh chim vội vã cố gắng bay về rừng tìm chốn ngủ, khách bộ hành cũng bước gấp về nơi trú ngụ. Hai câu thơ cũng đối rất tề chỉnh ngàn mai/ dặm liễu, gió cuốn/ sương sa. Sự đối xứng này làm nổi bật lên nỗi mệt nhọc và sự cố gắng trong cảnh chiều lặng lẽ của khách đường xa. Thông thường cảnh chiều gợi lên hình ảnh hứa hẹn sự sum họp, đầm ấm, nhưng trong bài thơ, tác giả sử dụng các từ Hán Việt ngàn mai, dặm liễu gợi lên cảm xúc xa xôi, buồn vắng, đơn chiếc. Trong hoàn cảnh đó, tâm trạng con người bộc lộ một cách rõ rệtKẻ chốn Chương Đài, người lữ ai mà kể nỗi hàn ôn?Kẻ và người đều là những đại từ phiếm chỉ, chủ thể trữ tình được ẩn chứa đằng sau nó. Tuy nhiên, qua đây ta có thể nhận thức được về chủ thể trữ tình – nhà thơ đang trong cảnh sinh ly, bao trùm tất cả là nỗi buồn sinh ly. Và nỗi buồn sinh ly đó được tạo nên bởi từ Hán Việt lữ thứ. Chỉ có những người đi xa sống nơi đất khách quê người mới rơi vào tâm trạng cô đơn buồn vắng như vậy. Kết thúc bài thơ là câu thơ thể hiện nỗi khao khát được tâm sự, giải bày. Biết ai hiểu cho nỗi lạnh ấm của lòng người, của nhân tình thế thái. Bài thơ tả cảnh ngụ tình, từ việc tả cảnh chiều muộn ở nơi xa, tác giả thể hiện nỗi nhớ quê nhà và nỗi niềm trắc ẩn trước nhân tình thế thái, không người tri âm tri kỷ. Tất cả được giãi bày qua những vần thơ trữ tình buồn man mác. Cái độc đáo của bài thơ là nữ thi sĩ đã sử dụng rất thành công hệ thống các từ Hán Việt, làm cho bài thơ trở nên trang nhã, thanh tao mà sâu phê bình Phan Ngọc nhận xét “... Bà Huyện Thanh Quan trong bài Chiều hôm nhớ nhà đã đẩy lùi bức tranh vào thế giới của tâm tưởng, của ý niệm... Các từ Hán Việt nữ thi sĩ dùng đẩy ta vào thế giới muôn đời. Trên đời chỉ có những ông chài, những thôn vắng, những kẻ chăn châu, những bến xa, những người ở đài cao, những người khách trọ, cảnh lạnh ấm của cuộc đời. Làm gì có những ngư ông, những viễn phố, những mục tử, những cô thôn? Làm gì có trang đài, người lữ thứ, nỗi hàn ôn? Không những thế, các từ Hán Việt đều đặt vào vị trí quyết định giá trị câu thơ câu cuối vần để gây tiếng vọng trong tâm hồn ta. Cuối nhịp ở âm tiết 4 để bắt người ta dừng lại ở đây... Nghệ thuật là sự lựa chọn cực kỳ công phu. Bằng cách này, bà Huyện Thanh Quan kéo ta về với cõi vĩnh viễn của ý niệm và nỗi u hoài của nhà thơ, của cái kiếp người không biết đến tháng năm, thời đại, không có sự cách biệt giữa tôi và anh...” Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt – NXB Đà Nẵng 1991, trang 52,53.Đề tài hoài cổ, cảm hứng hoài niệm về một thời đại huy hoàng đã đi qua đã được bà Huyện Thanh Quan thể hiện qua bài Thăng Long thành hoài cổ với thơ thất ngôn - một trình độ ngôn ngữ tinh tế, điêu luyện, chuẩn xác để miêu tả sự vật, biểu hiện tâm tư. Bài thơ một lần nữa khẳng định phong cách thơ thanh nhã, trang trọng của bà khi tác giả sử dụng thành công một hệ thống từ Hán Việt. Cũng như ở bài thơ Chiều hôm nhớ nhà, ở bài thơ này phần lớn các từ Hán Việt được đặt vào vị trí quyết định giá trị của câu thơ từ cuối câu, để lại những dư âm thấm vào tâm hồn người đọcTạo hóa gây chi cuộc hí trườngĐến nay thấm thoắt mấy tinh sươngLối xưa xe ngựa hồn thu thảo,Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,Nước còn cau mặt với tang năm gương cũ soi kim cổ,Cảnh đấy người đây luống đoạn đầu bài thơ, nhà thơ nêu lên một quan niệm về thế lực siêu nhiên vạn năng. Để thể hiện sự quan trọng đó, tác giả không dùng từ ông trời mà dùng từ tạo hóa. Tạo hóa chi phối nhân sinh thế sự, xoay vần cuộc sống xã hội và số phận con người. Tất cả như luôn biến đổi, luôn bị thay thế như một sân khấu diễn trò, lớp này kế tiếp lớp khác và từ Hán Việt hí trường như khắc đậm thêm điều đó. Thực vậy, thời đại lịch sử mà bà Huyện Thanh Quan sống là thời khủng hoảng suy tàn của chế độ phong kiến. Có thể nói đây là nguyên nhân tạo nguồn cảm hứng hoài cổ nơi bà. Tuy nhiên sự gắn bó của bà với triều đại cũ không sâu sắc và mật thiết như Nguyễn Gia Thiều hay Phạm Thái nên thái độ hoài cổ của bà nhẹ nhàng, thanh thoát hơn. Mặc dù vậy, hai câu mở đầu vừa là câu hỏi vừa là câu tán thán với cách sử dụng thành công từ Hán Việt đã ẩn chứa một nỗi niềm luyến tiếc kín đáo của nhà hai câu thực, nhà thơ thể hiện tài nghệ điêu luyện của mình trong việc lựa chọn từ ngữ kết hợp tài tình từ thuần Việt và Hán Việt trong một hệ thống niêm luật chặt chẽ. Nhà thơ đã khéo léo chọn hai hình tượng không gian, cảnh vật có tính cách đối thêm Thông Tin Lịch Chiếu Ngày Phát Sóng Đấu Phá Thương Khung Phần 5 Bảo Giờ Ra Mắta. Lối xưa xe ngựa / Nền cũ lâu đàib. Hồn thu thảo / Bóng tịch dươngHệ thống a. là hình ảnh của không gian nhân tạo, hệ thống b. là hình ảnh của không gian thiên tạo. Không gian nhân tạo không chống chọi nỗi thời gian và đã thuộc về thời gian quá khứ. Những hình ảnh còn lại chỉ là những tàn dư của một quá khứ hoàng kim. Dưới bước đi mạnh mẽ của thời gian, dường như chỉ có cảnh vật thiên nhiên là có khả năng tồn tại, nhưng đó cũng là sự tồn tại trong tàn tạ bởi trong câu thơ gợi hình ảnh của ngọn cỏ thu và ánh mặt trời. Cỏ thu đã trở thành hồn thu thảo và mặt trời chỉ là bóng tịch dương. Dường như ở các câu thơ này, từ Hán Việt là những nốt nhấn cho ý đồ nghệ thuật của các giả. Các cụm từ Hán Việt đã tạo nên những hình bóng không gian mang màu sắc cô liêu tàn tạ. Sự lựa chọn và kết hợp từ độc đáo trên đã tạo nên sự “hòa âm” giữa quá khứ và hiện hai câu luận, tác giải tiếp tục diễn đạt nỗi niềm hoài cổ trước sự đổi thay qua hình tượng đá trơ gan, nước cau mặt. Đá, nước là biểu tượng của dòng chảy bất tận của vũ trụ và nhân sinh, nhưng ở đây lại mang ý nghĩa phúng dụ cho tâm trạng phủ nhận, chống chọi lại sự đổi thay. Ở hai câu thơ này, nhà thơ lại sử dụng tuế nguyệt, tang thương mang ý nghĩa khái quát rất cao, tạo nên sức gợi cảm cho bài thúc bài thơ là một tiếng thở dài tuy nhẹ nhàng nhưng xuất phát từ tâm canNgàn năm gương cũ soi kim cổ,Cảnh đấy người đây luống đoạn bài Độc Tiểu Thanh ký, Nguyễn Du cũng từng viếtNỗi hờn kim cổ trời khôn hỏiĐể nói về những sự phi lý ở đời như là một quy luật, thì ở trong bài thơ này, với từ Hán Việt kim cổ nhà thơ cũng khái quát lên chuyện hưng phế như là một chân lý ngàn đời không thể thay đổi được. Vì thế, kết thúc bài thơ là một nỗi đau, nỗi bi thương và luyến tiếc về một thời xưa cũ. Đoạn trường là một từ Hán Việt được nhà thơ dùng rất đắt để kết tụ lại nỗi đau vậy, Thăng Long thành hoài cổ là một mẫu mực về nhiều phương diện trong tác phẩm văn học về đề tài hoài cổ. Đặc biệt đề tài hoài cổ cảm hứng hoài niệm về một thời đại huy hoàng đi qua nói trên đã được thể hiện qua một bài thơ thất ngôn ngắn gọn, nhẹ nhàng mà tha thiết. Bài thơ càng trở nên trang trọng hơn khi bà khéo léo kết hợp hệ thống từ Hán Việt ở mỗi dòng thơ để tạo nên âm vang của bài thơ. Nhận xét về bài thơ trên, Tiến sĩ Ngôn ngữ học Hoàng Tất Thắng đã viết “Thăng Long thành hoài cổ là sự hoài cảm về quá khứ, về một thời vàng son đã qua. Hình ảnh trong bài thơ là hình ảnh của ký ức, của tâm tưởng, của những âm vang Hán tự...”.Với những thành công trên Thăng Long thành hoài cổ xứng đáng là một bài thơ hay của thơ ca thời Trung đại Việt thể nói rằng, Chiều hôm nhớ nhà và Thăng Long thành hoài cổ là hai bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của Bà Huyện Thanh Quan - một phong cách trang nhã, lịch lãm và sâu lắng. Đây cũng là những bài thơ hay về đề tài hoài cảm - hoài cổ trong thơ ca Việt Nam Trung đại. Điều làm nên giá trị nổi bật trong thi phẩm của bà được kết tinh bởi nhiều yếu tố mà trong đó phần quan trọng là sự sáng tạo của nhà thơ trong việc sử dụng và kết hợp một cách tài tình hệ thống từ Hán Việt. Thực vậy, yếu tố từ Hán Việt trong hai bài thơ đã thực sự mang lại cho người đọc một sự cảm nhận tinh tế về tình cảm, nỗi niềm, tài năng và nhân cách của bà Huyện Thanh Quan. Điều đáng nói ở đây không phải là sự xuất hiện ít hay nhiều từ Hán Việt trong mỗi bài thơ, mà là cách sử dụng điêu luyện của nhà thơ đã làm nên giá trị nghệ thuật đích thực cho toàn thi hai trăm năm đã trôi qua, vạn vật và con người có biết bao sự đổi thay, nhưng những bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan vẫn còn nguyên vẻ đẹp với sức lay động trong mỗi chúng ta nhờ việc sử dụng lớp từ Hán Việt một cách khéo léo, tài tình mà không phải nhà thơ nào cũng làm được.
Bộ đề Đọc hiểu Chiều hôm nhớ nhàChiều hôm nhớ nhà đọc hiểu - Chiều hôm nhớ nhà là một tuyệt phẩm của bà Huyện Thanh Quan Nguyễn Thị Hinh mang một nỗi buồn li biệt hoặc hoài cổ. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật sử dụng nhiều từ Hán Việt tạo nên phong cách trang trọng, cổ kính. Trong bài viết này Hoatieu xin chia sẻ tổng hợp bộ đề đọc hiểu văn bản Chiều hôm nhớ nhà của bà Huyện Thanh Quan, mời các bạn cùng tham các bạn cùng tham gia group Bạn Đã Học Bài Chưa? để cập nhật các kiến thức mới bổ ích về học tập cùng với Hoatieu bài Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ trang 64Đọc hiểu Chiều hôm nhớ nhà - mẫu 1Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏiChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa vẳng trống mái ngư ông về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mai gió cuốn chim bay mỏiDặm liễu sương sa khách bước chốn Chương Đài, người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn.Chiều hôm nhớ nhà - Bà Huyện Thanh QuanCâu 1 Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt của văn bản trên?Câu 2 Xác định các từ hán việt, từ láy và từ ghép trong các câu thơ sau trong đoạn tríchChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa vẳng trống mái ngư ông về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thônCâu 3 Đọc bài thơ em hiểu tâm trạng gì của Bà Huyện Thanh Quan?Trả lờiCâu 1- Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật- Phương thức biểu đạt Biểu cảm kết hợp miêu tảCâu 2- Từ Hán Việtngư ông,hoàng hôn,hàn ôn,mục tử, lữ thứ- Từ ghépcổ thôn- Từ láy bảng lảngCâu 3Em hiểu tâm trạng của bà Huyện Thanh Quan Đó là một tâm trạng buồn lê thê, một niềm sầu thương tê tái của khách đi xa nhớ nhà, nhớ quê hương da diết. Bài thơ chính là một niềm tâm sự,được giãy bày khi đi tới vùng đất lạ của tác hiểu Chiều hôm nhớ nhà - mẫu 2Đọc đoạn thơ sau và thực hiện yêu cầu“Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa vẳng trống dồnGác mái ngư ông về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thôn”Chiều hôm nhớ nhà – Bà Huyện Thanh Quan.Câu 1 Đọc đoạn thơ trên gợi cho em nhớ tới bài thơ nào cũng của Bà Huyện Thanh Quan? Hãy chép chính xác bài thơ và cho biết hoàn cảnh sáng tác bài thơ em vừa 2 Hãy tìm đại từ trong bài thơ em vừa chép và phân loại đại từ đó?Câu 3 Nêu tác dụng của từ láy được dùng trong hai câu thơ sau“Lom khom dưới núi tiều vài chúLác đác bên sông chợ mấy nhà”Câu 4 Từ bức tranh thiên nhiên trong bài thơ em tìm được ở câu 1, hãy viết đoạn văn 8-10 câu nêu cảm nghĩ của em về tình yêu quê hương đất nước , từ đó cho biết em cần làm gì để bồi dưỡng tình yêu quê hương. Trong đoạn văn có sử dụng một cặp từ đồng nghĩa và trái nghĩa gạch chân, chú thích.Trả lờiCâu 1Đọc đoạn thơ trên gợi cho em nhớ tới bài thơ Qua đèo tới Đèo Ngang, bóng xế tà,Cỏ cây chen đá, lá chen khom dưới núi, tiều vài chú,Lác đác bên sông, chợ mấy nước đau lòng con quốc quốc,Thương nhà mỏi miệng cái gia chân đứng lại trời, non, nước,Một mảnh tình riêng ta với ta→ Hoàn cảnh sáng tác khi bà được mời vào kinh đô Huế giữ chức Cung Trung giáo tập để dạy học cho công chúa và cung 2Đại từ ta dùng để xưng hôTuy nhiên chữ ta cuối cùng với vẫn là dùng để xưng 3Giúp câu thơ có vần, có nhịp điệu, đồng thời tạo ra khung cảnh hẻo lánh, cô đơn .Câu 4Ngay từ khi sinh ra, ai cũng có cho mình một quê hương. Cho dù quê hương ấy có lớn hay nhỏ, trù phú hay nghèo nàn thì trong chúng ta vẫn luôn ghi nhớ, khắc sâu trong tim hình ảnh quê hương thân thuộc ấy. Bởi quê hương chính là nơi gắn bó với chúng ta suốt một thời thơ ấu là nơi nuôi chúng ta lớn từ những hạt gạo ngọt thơm, củ khoai thơm phức. Rồi cũng tại quê hương, ta có nhiều kỉ niệm thân thương. Đó là kỉ niệm cùng lũ bạn chăn trâu, hát hoa trong buổi chiều cùng tiếng sáo vi vu, hay được chứng kiến cảnh cả đồng lúa một màu vàng tươi thật đẹp, hay mỗi khi Tết đến, cả xóm lại tụ họp một nơi cùng nhau làm bánh chưng để ăn. Chao ôi! Cái mùi thơm của của lá cùng với mùi tiêu và mùi thịt lợn luôn khiến cho ta cảm thấy thèm như vậy, quê hương đã gắn bó với ta không biết qua bao cái Tết. Nhưng rồi khi ta lớn lên, trưởng thành, ta sẽ có cuộc sống riêng ở nơi thành thị ồn ào. Những lo âu, suy tư cứ bủa vây ta khiến ta mệt mỏi. Lúc đó, ta thật muốn về với quê mẹ, trải nghiệm những thứ mà hồi bé ta hay làm. Quê hương thật có ý nghĩa. Ta nên biết yêu quê hương, đừng ghét quê hương. Bởi nếu không có quê hương thì ta sẽ không có được những kỉ niệm tốt, tuyệt vời...Từ trái nghĩa yêu, hiểu Chiều hôm nhớ nhà - mẫu 3Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏiChiều hôm nhớ nhàChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa vẳng trống mái ngư ông về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mai gió cuốn chim bay mỏiDặm liễu sương sa khách bước chốn Chương Đài, người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn.Bà Huyện Thanh QuanCâu 1 Hãy giải thích nghĩa của các từ in 2 Các từ Hán Việt tạo sắc thái gì cho bài lờiCâu 1 Nghĩa hoàng hôn, ngư ông, mục tử, lữ thứ, hàn ôn+ Hoàng hôn là khoảng thời gian sau khi Mặt Trời lặn cho đến khi trời tối hẳn.+ Ngư ông là người đánh cá hay bắt cá hay câu cá.+ Mục tử là người chăn nuôi động vật.+ Lữ thứ chỗ để tạm nghỉ lại của người đi đường xa.+ Hàn ôn là nỗi lạnh ấm, tương tự như là kể chuyện vui, chuyện buồn, nói chuyện 2 Các từ Hán Việt tạo sắc thái tạo sắc thái trang trọng, tao nhã, tinh tế, tạo ra sắc thái cổ, phù hợp với xã hội xưa.
Ai đã từng đọc "Truyện Kiều" chắc không thể nào quên được câu thơ của Nguyễn Du nói về hoàng hôn "Sông sa vò võ phương trời, Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng". Cũng nói về hoàng hôn và nỗi buồn của kẻ tha hương, bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" của Bà Huyện Thanh Quan là một kiệt tác của nền thơ Nôm Việt Nam trong thế kỉ XIX "Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn, Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn. Gác mái, ngư ông về viễn phố, Gõ sừng, mục tử lại cô thôn. Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu sương sa khách bước dồn. Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ, Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?". Câu thơ đầu tả ánh hoàng hôn một buổi chiều viễn xứ. Hai chữ "bảng lảng" có giá trị tạo hình đặc sắc ánh sáng lờ mờ lúc sắp tối, mơ hồ gần xa, tạo cho bức tranh một buổi chiều thấm buồn "Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn". Hai chữ "bảng lảng" là nhãn tự - như con mắt của câu thơ. Nguyễn Du cũng có lần viết "Trời tây bảng lảng bóng vàng" Truyện Kiều Chỉ qua một vần thơ, một câu thơ, một chữ thôi, người đọc cũng cảm nhận được ngòi bút thơ vô cùng điêu luyện của Bà Huyện Thanh Quan. Đối với người đi xa, khoảnh khắc hoàng hôn, buồn sao kể hết được? Nỗi buồn ấy lại được nhân lên khi tiếng ốc tù và cùng tiếng trống đồn "xa đưa vẳng" lại. Chiều dài tiếng ốc, chiều cao tiếng trống đồn trên chòi cao của không gian được diễn tả qua các hợp âm ấy, đã gieo vào lòng người lữ khách một nỗi buồn lê thê, một niềm sầu thương tê tái. Câu thơ vừa có ánh sáng bảng lảng vừa có âm thanh tiếng ốc, trống đồn tạo cho cảnh hoàng hôn miền đất lạ mang màu sắc dân dã "Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn, Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn " Phần thực và phần luận, các thi liệu làm nên cốt cách bài thơ được chọn lựa tinh tế, biểu đạt một hồn thơ giàu cảm xúc. Ngư ông, mục tử, lữ khách... thế giới con người được nói đến. Cảnh vật thì có ngàn mai, có gió và sương, có "chim bay mỏi" ... Những thi liệu ấy mang tính chất ước lệ của thi pháp cổ người thì có ngư, tiều; cảnh vật, cây cỏ, hoa lá thì có phong, sương, mai, liễu, cánh chim chiều... nhưng với tài sáng tạo vô song chọn từ, tạo hình ảnh, đối câu, đối từ, đối thanh, ở phương diện nào, nữ sĩ cũng tỏ rõ một hồn thơ tài hoa, một ngòi bút trang nhã. Vì thế cảnh vật trở nên gần gũi, thân thuộc với mọi con người Việt Nam. Cảnh vật mang hồn người đậm đà bản sắc dân tộc. Chiều tà, ngư ông cùng con thuyền nhẹ trôi theo dòng sông về viễn phố bến xa với tâm trạng của một "ngư ông" - ông chài nhàn hạ, thoải mái. Động từ "gác mái" biểu đạt một tâm thế nhàn của ngư ông đang sống ở miền quê, đã thoát vòng danh lợi "Gác mái, ngư ông về viễn phố". Cùng lúc đó, lũ trẻ đưa trâu về chuồng, trở lại "cô thôn", cử chỉ "gõ sừng" của mục đồng thật hồn nhiên, vô tư, yêu đời. "Gõ sừng mục tử lại cô thôn". Đó là hai nét vẽ về con người, hai bức tranh tuyệt đẹp nơi thôn dã vô cùng thân thuộc đáng yêu. Hai câu luận tiếp theo mượn cảnh để tả cái lạnh lẽo, cô liêu, bơ vơ của người lữ khách trên nẻo đường tha hương nghìn dặm. Trời sắp tối. Ngàn mái xào xạc trong "gió cuốn"; gió mỗi lúc một mạnh. Cánh chim mỏi bay gấp về rừng tìm tổ. Sương sa mù mịt dặm liễu. Và trên con đường sương gió ấy, lạnh lẽo ấy chỉ có một người lữ khách, một mình một bóng đang "bước dồn" tìm nơi nghỉ trọ. Hai hình ảnh "chim bay mỏi" và "khách bước dồn" là hai nét vẽ đăng đôi, đặc tả sự mỏi mệt, cô đơn. Con người như bơ vơ, lạc lõng giữa ”gió cuốn" và "sương sa", đang sống trong khoảnh khắc sầu cảm, buồn thương ghê gớm. Câu thơ để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc. Đảo ngữ làm nổi bật cái bao la của nẻo đường xa miền đất lạ "Ngàn mai, gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu, sương sa khách bước dồn". Bằng sự trải nghiệm của cuộc đời, đã sống những khoảnh khắc hoàng hôn ở nơi đất khách quê người, nữ sĩ mới viết được những câu thơ rất thực miêu tả cảnh ngộ lẻ loi của kẻ tha hương hay đến thế! Hai câu kết hội tụ, dồn nén lại tình thương nhớ. Nữ sĩ cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Câu thứ bảy gồm hai vế tiểu đối, lời thơ cân xứng đẹp "Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ". Chương Đài là điển tích nói về chuyện li biệt, nhớ thương, tan hợp của lứa đôi Hàn Hoành và Liễu thị đời nhà Hán xa xưa. Bà Huyện Thanh Quan đã vận dụng điển tích ấy một cách sáng tạo. "Chương Đài" và "lữ thứ" trong văn cảnh gợi ra một trường liên tưởng về nỗi buồn li biệt của khách đi xa nhớ nhà, nhớ quê hương da diết. Khép lại bài thơ là một tiếng than giãi bày một niềm tâm sự được diễn tả dưới hình thức câu hỏi tu từ. "Ai" là đại từ phiếm chỉ, nhưng ai cũng biết đó là chồng, con, những người thân thương của nữ sĩ. "Hàn ôn” là nóng lạnh, "nỗi hàn ôn" là nỗi niềm tâm sự. Người lữ thứ trong chiều tha hương thấy mình bơ vơ nơi xa xôi, nỗi buồn thương không sao kể xiết "Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ, Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?". "Chiều hôm nhớ nhà" và "Qua Đèo Ngang" hai kiệt tác thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Đó là chùm thơ của Bà Huyện Thanh Quan sáng tác trong những tháng ngày nữ sĩ trên đường thiên lí vào kinh đô Huế nhận chức nữ quan trong triều Nguyễn. Có thể coi đó là những bút kí - thơ vô cùng độc đáo. Thơ của Bà Huyện Thanh Quan thấm một nỗi buồn li biệt hoặc hoài cổ, hay nói đến hoàng hôn, lời thơ trang nhã, sử dụng nhiều từ Hán Việt bảng lảng, hoàng hôn, ngư ông, viễn phố... tạo nên phong cách trang trọng, cổ kính, nhạc điệu trầm bổng hấp dẫn. "Chiều hôm nhớ nhà" là một bông hoa nghệ thuật chứa chan tình thương nhớ, bâng khuâng,...
bài thơ chiều hôm nhớ nhà